
Sáng 23/10, thừa ủy quyền của Thủ tướng, Bộ trưởng Tài chính Ngô Văn Tuấn trình Quốc hội dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế thu nhập cá nhân.
Theo tờ trình, Chính phủ đề xuất tổ chức khoa học và công nghệ công lập, cơ sở giáo dục đại học công lập hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận được miễn thuế theo quy định của Chính phủ. Việc xác định cơ sở giáo dục công lập, cơ sở giáo dục tư thục hoạt động không vì lợi nhuận thực hiện theo quy định của pháp luật về giáo dục, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học.
Dự thảo luật bổ sung quy định về thuế suất đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng.

Cụ thể, theo tờ trình, chính sách thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành đã có quy định liên quan đến sử dụng tiết kiệm, hiệu quả đất đai. Tuy nhiên, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp chưa có quy định về mức thuế suất đối với đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng, đất chậm đưa vào sử dụng.
Để tiếp tục thể chế hóa Nghị quyết số 21 của Trung ương về “nghiên cứu xây dựng chính sách tài chính, thuế với lộ trình phù hợp để sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả; tập trung khắc phục tình trạng bỏ hoang đất, chậm đưa đất vào sử dụng..., chính sách thuế cao hơn đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng”, Chính phủ đề xuất bổ sung trong Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp quy định về nội dung này.
Theo đó, phương án Chính phủ đề xuất là: Đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng áp dụng mức thuế suất 0,2% và không áp dụng hạn mức. Đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng thực hiện theo quy định pháp luật về đất đai.
Có thể dẫn đến cách hiểu một diện tích đất áp dụng 2 mức thuế
Trình bày báo cáo thẩm tra dự án luật, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi cho biết cơ quan thẩm tra của Quốc hội đồng tình với đề xuất bổ sung quy định về áp dụng mức thuế suất 0,2% và không áp dụng hạn mức đối với đất bỏ hoang, đất không đưa vào sử dụng, đất chậm đưa vào sử dụng.
Tuy nhiên, khi đối chiếu với Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hiện hành và dự thảo Luật Đất đai sửa đổi, theo cơ quan thẩm tra, quy định tại dự thảo luật có mâu thuẫn, chưa thống nhất, chưa rõ căn cứ để thực hiện.
Cụ thể, luật hiện hành quy định áp dụng thuế suất 0,15% đối với đất chưa sử dụng theo đúng quy định, về bản chất là đất không đưa vào sử dụng, chậm đưa vào sử dụng. Nếu bổ sung như đề xuất của Chính phủ có thể dẫn đến cách hiểu cùng một diện tích đất có thể thuộc đối tượng áp dụng với 2 mức thuế suất khác nhau.
Bên cạnh đó, dự thảo luật dẫn chiếu pháp luật về đất đai đối với 3 trường hợp đất "bỏ hoang", "không đưa vào sử dụng", "chậm đưa vào sử dụng", trong khi dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) chỉ quy định khái niệm đất "bỏ hoang" và "các trường hợp thu hồi đất bỏ hoang do vi phạm pháp luật về đất đai đối với đất bỏ hoang", nên quy định dẫn chiếu chưa có căn cứ để áp dụng.

Với đất thực hiện dự án đầu tư không sử dụng hoặc chậm sử dụng, dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) quy định ngoài tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp, Nhà nước thu tiền sử dụng đất tăng thêm, tiền thuê đất tăng thêm được tính lũy tiến hằng năm; trường hợp quá 60 tháng mà chủ đầu tư vẫn không đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất. Khoản tiền này là khoản thu ngân sách từ đất đai thuộc tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.
Chính phủ báo cáo khoản tiền này và thuế suất 0,2% tại dự thảo luật này cùng nhằm thể chế hóa Nghị quyết số 21 của Trung ương đối với đất thực hiện dự án đầu tư không sử dụng, chậm sử dụng.
Theo Ủy ban Kinh tế và Tài chính, cùng một diện tích đất dự án không sử dụng, chậm sử dụng vừa phải nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tăng thêm theo dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), vừa phải nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp với thuế suất 0,2% theo dự thảo luật này, dẫn đến trùng lặp nghĩa vụ tài chính đối với cùng một hành vi.
Cùng với đó, Ủy ban cho rằng hồ sơ dự án luật chưa đánh giá được tác động thu ngân sách Nhà nước do dữ liệu về các loại đất này chưa được thống kê trên hệ thống quản lý của cơ quan thuế. Ngoài ra, dự thảo luật chưa loại trừ thời gian bất khả kháng và đất của dự án đầu tư phân kỳ được phê duyệt. Theo Ủy ban, điều này có thể dẫn đến thu thuế đối với trường hợp chậm sử dụng đất do nguyên nhân khách quan.
Nghị quyết số 21 của Trung ương yêu cầu nghiên cứu xây dựng chính sách tài chính, thuế với lộ trình phù hợp để khắc phục tình trạng bỏ hoang đất, chậm đưa đất vào sử dụng, trong đó áp dụng chính sách thuế cao hơn đối với đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng. Ủy ban cho rằng dự thảo luật áp dụng cùng mức thuế suất 0,2% đối với cả đất chậm đưa vào sử dụng nhưng chưa làm rõ căn cứ và lộ trình.
Vì vậy, Ủy ban đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo làm rõ mối quan hệ giữa thuế suất 0,2% với khoản tiền phải nộp theo pháp luật về đất đai, không trùng lặp nghĩa vụ tài chính nhưng không làm giảm nghĩa vụ của các trường hợp đang áp dụng thuế suất 0,15%.


