Năm 1947, giữa chiến khu Việt Bắc, bà Nguyễn Thị Xuân Phượng được giao nhiệm vụ chế tạo thuốc nổ, vũ khí phục vụ quân đội. Tại đây, bà trực tiếp học nghề từ kỹ sư Trần Đại Nghĩa - người đặt nền móng cho ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam.
Ở tuổi 97, bà Nguyễn Thị Xuân Phượng, người phụ nữ đã trải qua những năm tháng khốc liệt trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ vẫn vô cùng minh mẫn. Qua giọng kể điềm tĩnh mà rắn rỏi, phần ký ức gần một thế kỷ của bà hiện lên rõ ràng, như thể những trang lịch sử ấy chưa từng lùi xa.
Bà Nguyễn Thị Xuân Phượng
Cô bé 16 tuổi trốn nhà theo cách mạng
Ở Huế đầu thế kỷ 20 có những "luật lệ" riêng. Con gái từ 15-16 tuổi không được giao du nếu không có phép cha mẹ. Lẩn quẩn trong nhà, học nấu ăn, thêu thùa, rồi gả chồng - đó là trật tự đã định sẵn cho những người như bà Phượng.
Năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với bước ngoặt lớn khi Nhật Bản đầu hàng sau 2 vụ ném bom nguyên tử. Bộ máy quân sự của Nhật ở Đông Dương nhanh chóng tan rã. Tranh thủ thời cơ, ngày 2/9 tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Thời điểm đó, bà Phượng mới 16 tuổi, vẫn là học sinh, chưa từng tiếp xúc với chính trị hay chiến tranh. Tuy nhiên, trước những lời kêu gọi tham gia cứu nước, lớp thanh niên như bà đã sớm hưởng ứng với tinh thần sôi nổi.
“Trong mỗi người Việt Nam đều có một mầm mống yêu nước. Ngày thường không ai nhận ra, nhưng khi đất nước biến động, nó tự nhiên thức dậy, thôi thúc những tình cảm thầm lặng bùng lên” - bà chia sẻ.
Bà Phượng chụp ảnh cùng gia đình trước 5 ngày trốn nhà tham gia hoạt động cách mạng. Ảnh: NVCC
Năm 1946, bà và người cậu hơn mình 5 tuổi hẹn nhau 5 giờ sáng ra bến đò, theo cách mạng lên chiến khu. Hai người mang theo chiếc xe đạp phòng khi cần dùng. Nhưng khi mới đi, người cậu chợt nhớ ra quên ống bơm xe, đành quay về lấy, để bà đứng chờ.
Rồi tiếng súng nổ từ bên kia sông - Tây bắt đầu càn. Người trên đò giục. Bà vứt xe nhảy xuống đò một mình, bỏ cậu ở lại. Hành trang bà mang theo chỉ có đôi dép sandal và bộ quần áo. Từ đó, cuộc đời hoạt động cách mạng của bà Phượng bắt đầu với lời hứa "đã đi là đi đến cùng".
Vào vùng giải phóng, bà Phượng được phân công tham gia công tác tuyên truyền và địch vận tại Huế. Với vốn tiếng Pháp vững, bà viết truyền đơn nhét vào từng bó rau bán cho lính Pháp, đồng thời tham gia phát thanh tuyên truyền tinh thần đấu tranh, kêu gọi ý chí giữ nước của người dân Việt Nam.
Cô gái học làm thuốc nổ trong rừng
Đến năm 1947, bà Phượng được Bộ Quốc phòng tuyển vào Nha Nghiên cứu Kỹ thuật, tham gia chế tạo thuốc nổ và vũ khí phục vụ kháng chiến. Khi đó, bà không lường hết mức độ nguy hiểm của công việc, chỉ biết đất nước cần người giỏi tiếng Pháp để đọc tài liệu và thực hiện nhiệm vụ.
Trong nhóm cán bộ kỹ thuật đầu tiên được tuyển chọn, bà Phượng là nữ duy nhất. Đồng đội gọi bà bằng biệt danh “người đẹp thuốc nổ”.
Nhắc lại ký ức những năm đầu ở chiến khu Việt Bắc, bà Phượng không quên buổi đầu gặp người thầy dạy chế tạo vũ khí - kỹ sư Trần Đại Nghĩa, người sau này được xem là đặt nền móng cho ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam.
Bà kể, hôm đó, trong lớp học tạm giữa chiến khu, kỹ sư Thúy Liễu - một trí thức tốt nghiệp cử nhân khoa học - đang giảng về cách chế tạo thuốc nổ fulminat bằng tiếng Pháp. Đúng lúc ấy, 2 người khách bước vào. Một cán bộ Bộ Quốc phòng giới thiệu: “Đây là anh Trần Đại Nghĩa, kỹ sư từ Pháp về theo lời kêu gọi của Bác Hồ. Anh sẽ trực tiếp hướng dẫn chúng ta chế tạo vũ khí chống thực dân Pháp”.
Từ lời giới thiệu giản dị đó, bà Phượng bắt đầu hành trình học tập và chế tạo vũ khí kéo dài nhiều năm.
Bà Phượng cho biết kỹ sư Trần Đại Nghĩa đã trực tiếp hướng dẫn nhóm cán bộ trẻ pha chế thuốc nổ, chế tạo súng đại bác không giật SKZ chống tăng và nhiều loại mìn phục vụ chiến đấu.
Công việc ban đầu tưởng như đơn giản: đọc sách hướng dẫn của Pháp, cân đong hóa chất và pha chế theo công thức.
“Lúc đầu, tôi nghĩ những người làm thuốc nổ không khác gì dược sĩ pha thuốc ho, chỉ cần làm đúng hướng dẫn là được. Nhưng khi bắt tay vào, tôi mới thấy mức độ nguy hiểm rất lớn, chỉ một sai sót nhỏ cũng có thể dẫn đến nổ bất cứ lúc nào” - bà kể.
Sách hướng dẫn ghi rõ 2 gram fulminat (chất hoá học làm thuốc nổ) đủ lấy mạng 1 người, trong khi bà và đồng đội phải chế tạo với số lượng lớn để phục vụ chiến trường.
Đối mặt với thuốc nổ, tai nạn rồi cũng đến. Một buổi sáng, bà đi lấy xôi thay cho người bạn cùng ca trong phòng nghiên cứu (gọi là phòng nhưng thực chất là những căn lều được dựng tạm), vừa quay lưng thì lều tranh bùng cháy. Người bên trong bị bỏng khắp cơ thể, chỉ có đôi mắt còn nguyên vẹn nhờ đeo kính bảo hộ.
Một lần khác, khi đang làm, bà có việc phải ra ngoài, vừa bước ra khỏi cửa thì bất ngờ nghe tiếng nổ lớn. Quay lại, bà thấy đồng nghiệp nằm dưới đất. Đứng giữa cảnh tượng ấy, bà Phượng suýt ngất và tự hỏi liệu mình có thể tiếp tục công việc này hay không...
Tiếp tục nhận nhiệm vụ đặc biệt
Những năm sau đó, bà Phượng lăn lộn ở chiến khu Việt Bắc, làm đủ việc như nghiên cứu đường bay đạn đại bác, làm báo, rồi học lớp y sĩ cao cấp.
Tới năm 1967, bà Xuân Phượng đang là bác sĩ ổn định tại Ủy ban Liên lạc Văn hóa với nước ngoài thì được Bác Hồ triệu tập. Bà được giao nhiệm vụ bảo vệ sức khỏe và phiên dịch cho vợ chồng đạo diễn người Hà Lan Joris Ivens - một trong những nhà làm phim tài liệu lừng danh nhất thế giới trong chuyến thực địa vào nơi ác liệt nhất của chiến tranh.
Bác Hồ giải thích với đoàn: "Chúng ta làm 20 phim nhưng chưa chắc một phim nào được chiếu ở các nước tư bản, tại vì họ bảo đây là tuyên truyền cộng sản. Nhưng với hai ông bà này - bạn lâu năm của nhiều nước bị áp bức, phim của họ sẽ chiếu được ở nước Mỹ".
Thế là bà Phượng từ biệt gia đình lên đường, theo đoàn làm phim của đạo diễn Joris Ivens vào Vĩnh Linh (Quảng Trị).
Đoàn đi hai xe riêng - ông Ivens một xe, bà Ivens một xe - phòng khi bị bom dội. Vào đến chiến trường, ban ngày, đoàn đối mặt với bom đạn để quay phim, ban đêm xuống địa đạo sâu khoảng 9m để trú ẩn.
Đoàn làm phim 'Vĩ tuyến 17 - Chiến tranh nhân dân'. Ảnh: NVCC
Nhắc về kỷ niệm của chuyến công tác, bà Phượng nhớ mãi tiếng gọi cầu cứu vang lên từ phía cuối hầm lúc nửa đêm: "Đoàn phim có ai là bác sĩ không? Cứu, cứu chúng tôi với".
Là một bác sĩ, bà Phượng ngồi dậy theo phản xạ, kéo vội chiếc túi cấp cứu đeo vào người, cùng đồng nghiệp lần theo lối hầm tối để đến nơi có tiếng cầu cứu. Tại đó, một sản phụ nằm trên nền đất lạnh, kiệt sức. Sau một hồi trấn an và hướng dẫn người phụ nữ thì đứa bé cất tiếng khóc chào đời.
“Tôi trao bé cho người cha sau khi cắt rốn và lau người. Bỗng nhiên, trong căn hầm vang lên tiếng khóc hạnh phúc của người cha: 'Con ơi! Con ơi!'. Một bên đứa bé khóc oe oe, một bên người cha khóc nức, cả địa đạo lặng đi, tôi cũng không cầm được nước mắt” - bà xúc động nhớ lại.
Khoảnh khắc ấy được một đồng nghiệp âm thầm ghi hình. Khi xem lại, đạo diễn Joris Ivens đặt tay lên vai bà và nói: “Phượng ơi, đó chính là nghề của chúng ta, ghi lại những giây phút mà cuối cùng, sự sống đã chiến thắng cái chết”.
Bén duyên với nghề phóng viên chiến trường
Chuyến đi Vĩnh Linh đã tạo nên một bước ngoặt sâu sắc trong suy nghĩ của bà Phượng. Từng khoác áo blouse trắng và giữ một vị trí khiến nhiều người ngưỡng mộ, bà dần cảm nhận rõ sự day dứt khi chứng kiến ngoài kia chiến tranh cướp đi sinh mạng con người, còn mình lại "đứng ngoài cuộc".
Đạo diễn Joris Ivens nhận xét: “Phượng có tố chất làm phim. Đất nước lúc này không chỉ cần bác sĩ hay phiên dịch mà cần người ghi lại cuộc chiến để thế giới biết”. Từ gợi mở ấy, bà mạnh dạn tìm đến lãnh đạo xin chuyển ngành, dù vấp phải sự can ngăn.
Dẫu vậy, bà vẫn quyết định rẽ hướng, rời phòng khám ổn định để bước vào nghề phóng viên chiến trường, nơi ranh giới giữa sống và chết luôn cận kề. Tuy nhiên, gia đình không ngăn cản vì đã rất thấu hiểu bà.
Trong những hành trình sau đó, bà Phượng và đoàn làm phim nhiều lần đối mặt với cái chết. Bà nhớ mãi cảnh quay mà cả đoàn sẵn sàng đánh đổi bằng sinh mạng, khi đạo diễn Ivens muốn ghi lại hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng trên cột cờ bờ Bắc sông Hiền Lương lúc mặt trời lên sẽ phủ bóng xuống bờ Nam - biểu tượng của một đất nước không thể bị chia cắt.
Anh Nguyễn Quang Tuấn - người trèo lên cột cờ. Ảnh: Xuân Phượng
Cột cờ cao hơn 30m ở giữa vùng bom đạn dày đặc, đối phương liên tục rình rập. Sáng hôm ấy, khi nhà quay phim Nguyễn Quang Tuấn vừa bắt đầu trèo lên cột cờ, một quả bom nổ ngay gần đó. Bà Phượng và ông Ivens bị đất vùi. Khi được kéo ra, câu đầu tiên ông hỏi là: "Tuấn đâu rồi?". Ngước nhìn lên, anh vẫn đang leo, bám chặt cột cờ giữa khói bụi mù mịt.
Rồi anh lên đến đỉnh. Gió bỗng lặng. Cả đoàn nín thở. Một giây, hai giây..., rồi rất may gió nổi lên, lá cờ tung bay, bóng trùm xuống bờ Nam. Cảnh quay chỉ 50 giây.
Về Hà Nội, xem lại đoạn phim, cả đoàn bật khóc.
Bộ phim Vĩ tuyến 17 - Chiến tranh nhân dân sau đó gây tiếng vang lớn, được công chiếu khắp nước Mỹ, đúng như lời Bác Hồ đã tiên liệu.
Ngày 6/3/1968, bộ phim Vĩ tuyến 17 - Chiến tranh nhân dân được chiếu lần đầu ở Pháp và từ ngày 26/11/1968 được chiếu rộng rãi nhiều nơi trên thế giới, gây tiếng vang lớn.
Bà Nguyễn Thị Xuân Phượng sinh năm 1929 tại Huế, trong một gia đình trí thức.
Trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, bà trải qua nhiều vị trí: kỹ thuật viên thuốc nổ, y sĩ, phóng viên, thông dịch viên, bác sĩ nhi khoa…
Năm 2011, bà Xuân Phượng vinh dự được Chính phủ Pháp trao tặng Huân chương Bắc đẩu bội tinh
Năm 2024, trong danh sách '100 phụ nữ truyền cảm hứng nhất năm 2024' của Hãng tin BBC (Anh), đạo diễn Xuân Phượng nằm trong số những gương mặt truyền cảm hứng ở lĩnh vực văn hóa, giáo dục.
Phần 2: Ký ức về Bác Hồ và hành trình chứng kiến hai thời khắc lịch sử của dân tộc
Ông là người tận mắt chứng kiến cờ giải phóng được kéo lên trên nóc dinh Độc Lập, trực tiếp nghe Tổng thống Dương Văn Minh đọc tuyên bố đầu hàng, nghe nhạc sỹ Trịnh Công Sơn hát “Nối vòng tay lớn” trong ngày lịch sử của đất nước.
Trong ngày 30/4/1975 có 2 bản tin phát thanh đặc biệt được phát đi từ Sài Gòn và Hà Nội - 2 đầu của đất nước. Và trước đó vài giờ, khoảnh khắc xe tăng của quân giải phóng húc đổ cổng dinh Độc Lập cũng được lưu giữ lại.