Đây là dấu mốc lập pháp quan trọng, thể hiện sự đồng thuận cao trong việc khơi thông nguồn lực, hoàn thiện thể chế và tạo điều kiện để văn hóa trở thành động lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Việc Quốc hội thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với tỷ lệ tán thành rất cao là một sự kiện có ý nghĩa không chỉ đối với ngành văn hóa, mà còn đối với tiến trình phát triển chung của đất nước. Sau nhiều năm, văn hóa được khẳng định là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực và nguồn lực nội sinh của phát triển, Nghị quyết lần này đã cụ thể hóa những quan điểm đó bằng các cơ chế, chính sách có tính thực thi rõ hơn.

Giá trị lớn nhất của văn bản này nằm ở việc đưa văn hóa từ nhận thức sang thể chế, từ chủ trương sang chính sách, từ kỳ vọng sang điều kiện thực hiện. Văn hóa muốn phát triển không thể chỉ dựa vào tâm huyết của nghệ sĩ, nghệ nhân, cán bộ văn hóa hay cộng đồng sáng tạo; văn hóa cần nguồn lực, cơ chế, hạ tầng, nhân lực, thị trường và môi trường pháp lý phù hợp.

Quoc hoi 1.jpg
Các đại biểu tham dự Phiên họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI vào sáng ngày 24/04. Ảnh: Quochoi.vn

Một trong những nội dung đáng chú ý là việc xác lập ngày 24 tháng 11 hằng năm là Ngày Văn hóa Việt Nam, người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương. Đây không nên chỉ được nhìn như một ngày nghỉ mới, mà cần được tổ chức thành một ngày hội văn hóa thực chất của toàn xã hội. Nếu được chuẩn bị tốt, Ngày Văn hóa Việt Nam có thể trở thành dịp để người dân đến với bảo tàng, thư viện, nhà hát, di tích, không gian sáng tạo; để trường học tổ chức hoạt động giáo dục di sản; để cộng đồng địa phương giới thiệu bản sắc; để trẻ em và thanh niên được tiếp cận văn hóa một cách sinh động hơn.

Điểm có tính đột phá là Nghị quyết quy định Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu phát triển. Đây là cam kết nguồn lực rất quan trọng. Trong thời gian dài, nhiều lĩnh vực văn hóa gặp khó khăn do thiếu kinh phí: thiết chế văn hóa cơ sở hoạt động chưa hiệu quả; bảo tồn di sản còn hạn chế; nghệ thuật truyền thống gặp khó trong thu hút công chúng; nhân lực văn hóa chưa được đãi ngộ tương xứng; công nghiệp văn hóa có tiềm năng nhưng thiếu điều kiện phát triển.

Tuy nhiên, vấn đề không chỉ là tăng chi, mà là chi như thế nào cho hiệu quả. Nguồn lực 2% cần được sử dụng có trọng tâm, trọng điểm, hướng vào những nhiệm vụ có tác động lâu dài: bảo tồn di sản, phát triển thiết chế văn hóa cơ sở, hỗ trợ nghệ thuật truyền thống, số hóa dữ liệu văn hóa, đào tạo nhân lực, đặt hàng tác phẩm có giá trị cao, mở rộng tiếp cận văn hóa cho trẻ em, người lao động, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nếu nguồn lực được phân bổ minh bạch, có tiêu chí đánh giá cụ thể, đây sẽ là nền tảng quan trọng để tạo chuyển biến thật sự.

Nghị quyết cũng mở ra không gian mới cho công nghiệp văn hóa. Việc hình thành các cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa, tổ hợp sáng tạo văn hóa, cùng với các chính sách ưu đãi thuế, hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh, phát triển hạ tầng số và giải pháp công nghệ cao cho văn hóa là những cơ chế rất cần thiết. Việt Nam có nhiều tiềm năng về di sản, lịch sử, nghệ thuật, ẩm thực, du lịch, thiết kế, điện ảnh, âm nhạc, trò chơi, nội dung số, nhưng tiềm năng chỉ trở thành giá trị khi được tổ chức trong một hệ sinh thái sáng tạo.

Cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa hay tổ hợp sáng tạo văn hóa, nếu được triển khai đúng, sẽ là nơi kết nối nghệ sĩ, doanh nghiệp, nhà đầu tư, công nghệ, trường đại học và công chúng; là nơi ý tưởng văn hóa được thử nghiệm, sản xuất, phân phối và thương mại hóa. Tuy nhiên, cần tránh tình trạng gắn nhãn “sáng tạo” cho các dự án thương mại thuần túy. Không gian sáng tạo phải có hoạt động sáng tạo, sản phẩm sáng tạo, cộng đồng sáng tạo và đóng góp thực chất cho đời sống văn hóa.

Một nội dung quan trọng khác là chuyển đổi số và phát triển hạ tầng văn hóa số. Nghị quyết đặt ra nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về văn hóa, hạ tầng văn hóa số, nền tảng số dùng chung; số hóa các di sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt; hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất nội dung số; bảo vệ bản quyền, an ninh văn hóa và chủ quyền văn hóa số. Đây là hướng đi phù hợp trong bối cảnh không gian số đã trở thành môi trường văn hóa mới, nơi giá trị được sáng tạo, lan tỏa, nhưng cũng có thể bị xâm phạm, bóp méo hoặc thương mại hóa thiếu kiểm soát.

Chuyển đổi số văn hóa không chỉ là số hóa hiện vật hay lập cơ sở dữ liệu. Quan trọng hơn, đó là cách làm cho di sản, nghệ thuật, tri thức dân gian, ký ức cộng đồng và các giá trị văn hóa Việt Nam có thêm đời sống mới trong giáo dục, du lịch, truyền thông, công nghiệp nội dung và sáng tạo số. Nếu làm tốt, dữ liệu văn hóa có thể trở thành tài nguyên cho phim ảnh, trò chơi, mỹ thuật ứng dụng, thiết kế, bảo tàng số, thư viện số và các sản phẩm văn hóa hiện đại.

Nghị quyết cũng dành sự quan tâm đáng kể cho nhân lực văn hóa, nghệ thuật, thể thao. Các chính sách về tuyển dụng đặc cách đối với tài năng, phụ cấp ưu đãi nghề, bồi dưỡng luyện tập và biểu diễn, đào tạo lại khi hết tuổi nghề, đào tạo nhân lực chất lượng cao cho công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số, giám tuyển, giám định tác phẩm văn hóa, nghệ thuật, di sản… là những điểm rất cần thiết. Bởi văn hóa, cuối cùng, vẫn bắt đầu từ con người. Nếu không có nghệ nhân, nghệ sĩ, người sáng tạo, nhà nghiên cứu, nhà quản lý, chuyên gia công nghệ và cộng đồng thực hành, mọi chính sách văn hóa sẽ thiếu chủ thể thực hiện.

Cơ chế đặt hàng và khoán chi đối với hoạt động sáng tạo văn hóa sử dụng ngân sách nhà nước cũng là một bước tiến đáng chú ý. Sáng tạo văn học, nghệ thuật có đặc thù riêng, không thể vận hành hoàn toàn theo những khuôn mẫu hành chính cứng nhắc. Cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, thông qua hội đồng chuyên môn thẩm định độc lập, nếu được triển khai minh bạch, sẽ tạo điều kiện để Nhà nước đặt hàng các công trình, tác phẩm có giá trị cao, đồng thời tôn trọng tính tự chủ, sáng tạo của nghệ sĩ.

Một điểm mới khác là chính sách quảng bá, xúc tiến và phát triển thị trường công nghiệp văn hóa Việt Nam. Việc hỗ trợ Tuần Văn hóa Việt Nam, giao lưu nghệ thuật, dạy tiếng Việt, nhân rộng mô hình khu phố Việt Nam, làng Việt Nam, câu lạc bộ văn hóa, võ dân tộc, ẩm thực Việt Nam ở nước ngoài; hỗ trợ doanh nghiệp giới thiệu, xuất khẩu sản phẩm văn hóa; hỗ trợ trưng bày di sản Việt Nam tại các bảo tàng uy tín thế giới; hoàn thuế cho hoạt động quay phim tại Việt Nam nếu góp phần quảng bá đất nước, con người, du lịch Việt Nam cho thấy tư duy mới về sức mạnh mềm quốc gia.

Trong thế giới hiện nay, hình ảnh quốc gia không chỉ được tạo dựng bằng ngoại giao chính thức hay chỉ số kinh tế, mà còn bằng phim ảnh, âm nhạc, ẩm thực, thời trang, du lịch, bảo tàng, lễ hội, trò chơi, sách và các sản phẩm sáng tạo. Việt Nam có rất nhiều câu chuyện đáng kể. Vấn đề là phải kể bằng chất lượng, bằng ngôn ngữ của thời đại, bằng công nghệ, bằng bản quyền và bằng năng lực tổ chức chuyên nghiệp.

Dù vậy, Nghị quyết được thông qua mới là khởi đầu. Từ nghị trường đến đời sống là một chặng đường đòi hỏi nhiều nỗ lực. Cần sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể, tiêu chí rõ ràng, cơ chế phối hợp hiệu quả, nguồn lực được phân bổ minh bạch, trách nhiệm thực thi của địa phương và sự giám sát thường xuyên của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, báo chí và nhân dân.

Cần đặc biệt tránh hình thức hóa chính sách: Ngày Văn hóa Việt Nam không nên chỉ là một ngày nghỉ; tỷ lệ chi 2% không nên chỉ là con số ngân sách; khu sáng tạo không nên trở thành dự án bất động sản trá hình; số hóa di sản không nên dừng ở những dự án rời rạc; Quỹ văn hóa, nghệ thuật không được trở thành cơ chế xin - cho. Tinh thần mới của Nghị quyết đòi hỏi cách thực hiện cũng phải mới: minh bạch hơn, linh hoạt hơn, dựa vào kết quả đầu ra và tác động xã hội nhiều hơn.

Nhìn lại thời khắc 9h28 phút ngày 24.4.2026, điều đáng chú ý nhất không chỉ là tỷ lệ tán thành 95,40%, mà là tín hiệu chính sách mà Quốc hội gửi tới xã hội: văn hóa đã được đặt vào vị trí xứng đáng hơn trong chương trình nghị sự phát triển đất nước. Từ đây, nói đến văn hóa không chỉ là nói đến bảo tồn, lễ hội hay phong trào, mà còn là nói đến nguồn lực, nhân lực, công nghiệp sáng tạo, chuyển đổi số, bản quyền, thị trường, sức mạnh mềm và chất lượng sống của người dân.

Một nghị quyết không thể làm thay đổi tất cả ngay lập tức, nhưng có thể mở ra một hướng đi. Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam là một hướng đi như thế. Nó nhắc chúng ta rằng phát triển đất nước không chỉ là tăng trưởng kinh tế, xây dựng hạ tầng hay ứng dụng công nghệ, mà còn là xây dựng con người, gìn giữ ký ức, nuôi dưỡng bản sắc, phát triển sáng tạo và làm cho mỗi người dân được sống trong một môi trường văn hóa lành mạnh, phong phú, nhân văn hơn.

Trong kỷ nguyên phát triển mới, văn hóa Việt Nam cần tiếp tục đi cùng đất nước bằng một tâm thế mới: vừa gìn giữ, vừa sáng tạo; vừa bảo tồn, vừa phát triển; vừa tự hào về quá khứ, vừa chủ động tạo ra giá trị mới cho tương lai. Trách nhiệm sau phiên biểu quyết là làm sao để từ nghị trường, Nghị quyết thật sự đi vào đời sống, trở thành sức mạnh bên trong của con người Việt Nam và động lực bền vững của đất nước.