Những con số không tưởng

Tuyến vận chuyển bưu chính bằng thiết bị bay không người lái (UAV) kết nối xã Cần Giờ với phường Vũng Tàu thuộc TPHCM được khai trương hồi tháng Hai.

Theo đó, mỗi chiếc UAV mang theo kiện hàng 2kg, bay quãng đường hơn 12km mỗi chiều trong khoảng 15 phút, rút ngắn thời gian so với đường bộ khoảng 6 lần và đường thủy 3 lần. Tuyến bưu chính không người lái xuyên biển đầu tiên của Việt Nam này được xem là bước đi tiên phong trong phát triển logistics thông minh.

Mới đây, hoạt động bay thử nghiệm UAV phục vụ bón phân qua lá cho cây cà phê tại một khu vực thuộc địa bàn xã Mường Ảng (Điện Biên) cũng đã được thực hiện.

Vận chuyển hàng hóa, ghi hình thực địa phục vụ số hóa các công trình xây dựng, kiểm tra đường điện cao thế, hỗ trợ nông nghiệp... đều là những ứng dụng thuộc lĩnh vực kinh tế tầm thấp.

Dẫn thông tin từ một nghiên cứu quốc tế, TS Lương Việt Quốc, CEO công ty tự thiết kế, sản xuất thiết bị bay không người lái Real-time Robotics  (RtR) nói với PV VietNamNet rằng: Quy mô thị trường ứng dụng kinh tế tầm thấp nói chung của UAV có thể đạt khoảng 90 tỷ USD vào năm 2030. 

Tuy nhiên, theo ông Quốc, quy mô thị trường UAV thay đổi rất nhanh. Ngay cả ở lĩnh vực quốc phòng, nhu cầu thiết bị bay không người lái cũng tăng mạnh.

Trong một nghiên cứu được đăng tải vào tháng 10/2025, 4 thành viên thuộc 4 trường đại học khác nhau của Trung Quốc và Ba Lan dẫn số liệu dự đoán, dịch vụ di chuyển hàng không kết hợp kinh tế tầm thấp sẽ vượt quá 1.000 tỷ USD vào năm 2040.

CT UAV.jpg
UAV mang theo kiện hàng nặng 2kg, xuất phát từ Cần Giờ, vượt biển đến thẳng Vũng Tàu. Ảnh: CT UAV

Trung Quốc đã đưa kinh tế tầm thấp vào kế hoạch phát triển các ngành công nghiệp mới nổi chiến lược, mục tiêu đạt hơn 500 tỷ USD đóng góp cho GDP và tạo ra 4 triệu việc làm vào năm 2035. Để hiện thực hóa, 38 hành lang cao độ trên không và 200 cảng trực thăng đã được lên kế hoạch thiết lập. 

Đây là kế hoạch nằm trong sandbox (cơ chế thử nghiệm có kiểm soát) của Trung Quốc, nhằm cạnh tranh với các dự án đã triển khai tại Mỹ, EU, Singapore và UAE.

Trong khi đó, Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO) cũng đang xây dựng các quy tắc toàn cầu về khai thác không phận tầm thấp.

Rào cản cần tháo gỡ

UAV tác động đến nhiều ngành kinh tế như nông nghiệp; xây dựng; cơ sở hạ tầng; cứu hộ cứu nạn; quốc phòng… Ông Lương Việt Quốc cho rằng, để phát triển kinh tế tầm thấp, việc đầu tiên là Việt Nam phải làm chủ những công nghệ lõi trong ngành UAV. Muốn có công nghệ lõi, bắt buộc phải có phát minh. 

“Nếu không có phát minh mà chỉ đi sao chép công nghệ của doanh nghiệp khác, chúng ta mãi là người chạy theo. Khi đó, chúng ta không bao giờ có được sản phẩm đủ vượt trội để bán ra thế giới. Nếu UAV không tiêu thụ được trên thế giới thì ngay cả thị trường nội địa cũng khó giữ. Do đó, UAV Việt Nam phải có phát minh và đủ sức cạnh tranh sòng phẳng ở những thị trường khắt khe”, ông phân tích.

Do đó, trong Chương trình Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên triển khai ngay, được Chính phủ phê duyệt vào tháng 12/2025, UAV được xác định là một trong 6 sản phẩm công nghệ chiến lược.

Mục tiêu đến năm 2027, Việt Nam làm chủ thiết kế, tích hợp sản phẩm UAV; làm chủ tối thiểu 60% công nghệ lõi UAV; tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa trong giá bán đạt tối thiểu 50%. Trong giá thành sản phẩm, tỷ lệ này đạt ít nhất 30%.

Xa hơn, đến năm 2030 sẽ làm chủ tối thiểu 80% công nghệ lõi UAV; nâng tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa trong giá bán sản phẩm đạt tối thiểu 60% và trong giá thành sản phẩm đạt tối thiểu 40%; đáp ứng tối thiểu 30% nhu cầu thị trường trong nước.

w flycam 41163.jpg
UAV có nhiều ứng dụng trong kinh tế tầm thấp. Ảnh: Hoàng Hà

Là người đã nghiên cứu và hợp tác trong lĩnh vực UAV tại nhiều nước phát triển trên thế giới, TS Nguyễn Hải Nguyên, giảng viên ngành Kỹ thuật robot và cơ điện tử, Đại học RMIT Việt Nam, cho rằng, để “UAV - make in Việt Nam” thực sự cất cánh, yếu tố then chốt không chỉ là năng lực sản xuất, mà là năng lực nghiên cứu, thử nghiệm, hành lang pháp lý cho phép đổi mới nhanh, cùng cơ chế liên kết hiệu quả giữa Nhà nước - nhà trường - nhà doanh nghiệp.

Từ góc nhìn nghiên cứu và đào tạo, ông Nguyên cho hay, các trường đại học và viện nghiên cứu tại Việt Nam đang phát triển nhanh và mạnh. Nhiều nhóm nghiên cứu mới sở hữu lực lượng nhân sự mạnh, được đào tạo bài bản, có kinh nghiệm nghiên cứu chuẩn quốc tế, với thế mạnh về điều khiển tự động, AI, chế tạo và hệ thống nhúng - những công nghệ nền tảng của UAV hiện đại. 

Bên cạnh đó, khi UAV được xác định là một động lực của kinh tế tầm thấp, các trường đại học có cơ sở để đầu tư nghiên cứu dài hạn, xây dựng phòng thí nghiệm và chương trình đào tạo chuyên sâu. Đồng thời, doanh nghiệp cũng có thêm niềm tin để hợp tác với khối học thuật, cùng phát triển công nghệ và từng bước thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Tuy nhiên, rào cản lớn nhất hiện nay, theo TS Nguyên, không nằm ở nhân lực, nguồn lực hay ý tưởng, mà ở giai đoạn từ nghiên cứu đến triển khai thực tế.

Bởi, UAV là một hệ thống phức hợp, nơi phần mềm điều khiển, cảm biến, phần cứng và môi trường tương tác chặt chẽ. Phần lớn các tiến bộ trong UAV không thể đạt được chỉ trong phòng thí nghiệm, mà đòi hỏi nhiều giờ bay thử ngoài thực địa, trong các điều kiện và kịch bản vận hành khác nhau. Khi việc thử nghiệm bị hạn chế hoặc thủ tục xin phép bay thử quá phức tạp, chu trình “thiết kế - thử nghiệm - cải tiến” bị kéo dài, làm chậm đáng kể tốc độ đổi mới công nghệ và năng lực cạnh tranh.

Nếu thiếu các nền tảng thử nghiệm thực tế và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát về mặt pháp lý cho phép đồng thử nghiệm - nơi mà nhà nghiên cứu và doanh nghiệp cùng làm việc trên một nền tảng, chia sẻ rủi ro - rất khó để kết nối nghiên cứu với sản xuất và dịch vụ UAV quy mô lớn.