
Hai khoản vay hơn 4,4 tỷ đồng để kinh doanh nông sản
Ông Hoàng Ngọc M. (Gia Lai) ký hai hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP Đ. thông qua Chi nhánh G. để vay vốn phục vụ hoạt động kinh doanh nông sản.
Theo hợp đồng tín dụng đầu tiên ký ngày 6/2/2024, ngân hàng cho ông M. vay 2 tỷ đồng với mục đích bổ sung vốn kinh doanh nông sản. Khoản vay có thời hạn 11 tháng, lãi suất 7,3%/năm và được điều chỉnh định kỳ ba tháng một lần. Ngay trong ngày ký hợp đồng, ngân hàng đã giải ngân toàn bộ số tiền.
Tiếp đó, ngày 3/4/2024, hai bên ký hợp đồng tín dụng thứ hai với số tiền vay 2,4 tỷ đồng, thời hạn là 11 tháng, lãi suất 7,8%/năm cũng nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh nông sản.
Để bảo đảm cho cả hai khoản vay, ông M. thế chấp hai quyền sử dụng đất cùng tài sản gắn liền với đất tại tỉnh Gia Lai theo các hợp đồng thế chấp ký ngày 31/1/2024 và ngày 2/4/2024.
Tuy nhiên, sau khi được giải ngân, ông M. không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo cam kết. Đối với khoản vay 2 tỷ đồng, do vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc nên ngân hàng chuyển khoản vay sang nợ quá hạn từ ngày 6/1/2025.
Đối với khoản vay 2,4 tỷ đồng, ông M. vi phạm nghĩa vụ thanh toán lãi và nợ gốc nên khoản lãi bị chuyển sang quá hạn từ ngày 5/7/2024 và đến ngày 3/3/2025, khoản nợ gốc cũng bị chuyển sang nợ quá hạn.

Ngân hàng cho biết đã nhiều lần yêu cầu ông M. thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng không đạt kết quả. Do không thể thương lượng, ngân hàng khởi kiện tại TAND TP Pleiku (nay là TAND khu vực 7 - Gia Lai).
Tại tòa sơ thẩm, ngân hàng yêu cầu ông M. thanh toán tổng cộng hơn 5 tỷ đồng, gồm 4,4 tỷ đồng nợ gốc và hơn 602 triệu đồng tiền lãi tạm tính đến ngày 29/12/2025. Đồng thời, ngân hàng đề nghị được xử lý các tài sản thế chấp nếu người vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông M. thừa nhận đã vay tổng cộng 4,4 tỷ đồng và công nhận còn nợ ngân hàng hơn 4,9 tỷ đồng tính đến ngày 18/12/2025.
Ông cho biết, do việc làm ăn gặp nhiều khó khăn nên chưa có khả năng thanh toán. Người vay đề nghị ngân hàng cho thêm 4 tháng để trả nợ, đồng thời mong được giảm tiền lãi nhằm có điều kiện thu xếp tài chính.
Ông cũng xác nhận nếu quá thời hạn vẫn không trả được nợ thì đồng ý để ngân hàng xử lý toàn bộ tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ.
Ngày 19/12/2025, hai bên từng thống nhất phương án trả nợ và xử lý tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, sau đó ông thay đổi ý kiến với lý do còn nhiều vấn đề chưa được làm rõ liên quan đến diện tích thực tế của một thửa đất và ranh giới với các hộ liền kề.
Ông đề nghị tòa chỉ xem xét nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng tín dụng, không kết luận quyền đối với phần diện tích đất bị thiếu so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bảo lưu quyền khởi kiện trong một vụ án khác nếu phát sinh tranh chấp liên quan.
Kháng cáo không được chấp nhận do thiếu căn cứ
Cuối tháng 12/2025, TAND khu vực 7 - Gia Lai chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng. Tòa buộc ông M. thanh toán hơn 5 tỷ đồng, gồm 4,4 tỷ đồng tiền gốc và hơn 602 triệu đồng tiền lãi tính đến ngày 29/12/2025. Sau thời điểm xét xử sơ thẩm, ông còn phải tiếp tục chịu tiền lãi theo đúng thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Trường hợp ông M. không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý hai tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Không đồng ý, ngày 15/1/2026, ông M. kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, phía ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, còn bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Hai bên không đạt được thỏa thuận.
Hội đồng xét xử cho rằng, ông M. thừa nhận đã vay 4,4 tỷ đồng và thế chấp hai quyền sử dụng đất để bảo đảm khoản vay. Việc ông không trả được nợ do làm ăn khó khăn khiến các khoản vay bị chuyển thành nợ quá hạn nên bản án sơ thẩm buộc trả nợ là có căn cứ.
Với phần diện tích thực tế của một thửa đất nhỏ hơn giấy chứng nhận, tòa xác định ranh giới không có tranh chấp, đất đúng vị trí nên việc xử lý tài sản vẫn thực hiện theo hiện trạng.
Đồng thời, ông M. vẫn đề nghị ghi nhận trong bản án việc bảo lưu quyền khiếu nại, khởi kiện hoặc yêu cầu bồi thường đối với phần diện tích đất nếu sau này có căn cứ.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cho rằng pháp luật tố tụng dân sự không quy định việc ghi nhận những nội dung này trong phần quyết định của bản án phúc thẩm.
Hội đồng xét xử cũng xác định ông M. không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới làm thay đổi nội dung vụ án hoặc chứng minh kháng cáo có căn cứ. Do đó, tòa án cấp phúc thẩm quyết định không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông M., giữ nguyên bản án sơ thẩm.
