
Cuối tháng 10/1941, phát xít Đức tiến vào Yasnaya Polyana, điền trang của Lev Tolstoy ở vùng Tula, nước Nga. Một sĩ quan quân y trong đội quân phát xít đã lấy một mảnh giấy và viết bằng bút chì đỏ, sau đó treo lên cửa: “Cấm vào - Nhà của Tolstoy (nhà văn Nga vĩ đại nhất)”.

Tôi luôn thấy chi tiết ấy đặc biệt. Ngay trong một đội quân phát xít đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược tàn bạo trên Liên bang Xô viết, vẫn có những con người hiểu họ đang đứng trước ngôi nhà của một trong những nhà văn lớn nhất của thời đại. Tolstoy thuộc về nước Nga nhưng giá trị của ông đã vượt qua biên giới nước Nga, đến mức những sĩ quan phát xít ấy cũng nhận ra và muốn gìn giữ nơi ông từng sống và viết.
Nhưng chiến tranh khắc nghiệt hơn lòng kính trọng của một vài con người. Yasnaya Polyana vẫn bị quân phát xít Đức chiếm đóng suốt nhiều tuần. Và khi rút đi, họ đã phóng hỏa chính ngôi nhà từng được treo tấm biển bảo vệ ấy. May mắn là ngọn lửa được những người ở lại dập tắt.
Có lẽ khó tìm được một nghịch lý nào gần với thế giới của Lev Tolstoy hơn thế. Chiến tranh đã bước đến tận ngôi nhà của người viết Chiến tranh và Hòa bình, và giữa chiến tranh vẫn lóe lên sự kính trọng dành cho văn hóa, lương tri và phẩm giá con người, sự kính trọng dành cho Tolstoy...
Hơn 80 năm sau, cái tên Lev Tolstoy lại được nhắc đến trong một câu chuyện gắn với Việt Nam. Tháng 7 vừa qua, Hội đồng Giám khảo Giải thưởng Hòa bình quốc tế mang tên Lev N.Tolstoy đã nhất trí trao giải năm 2026 cho Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, ghi nhận những đóng góp vào sự nghiệp củng cố hòa bình và hợp tác giữa các dân tộc.

Trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga những ngày đầu tháng 9 này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhận giải thưởng mang tên nhà văn của Chiến tranh và Hòa bình.
Sự gặp nhau ấy khiến tôi nghĩ nhiều hơn về một mối quan hệ đã đi qua hơn 3/4 thế kỷ và cũng đã đi qua rất nhiều đổi thay của thế giới.
Từ lòng tin lịch sử tới những giá trị của hiện tại
Việt Nam và Liên Xô thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 30/1/1950, khi cuộc kháng chiến của Việt Nam còn vô cùng gian khó. Trong những thập niên sau đó, sự giúp đỡ của Liên Xô hiện diện trong quốc phòng, khoa học kỹ thuật, đào tạo cán bộ và nhiều công trình kinh tế. Hàng chục nghìn cán bộ, chuyên gia Việt Nam được đào tạo tại Liên Xô. Vietsovpetro, Thủy điện Hòa Bình cùng nhiều công trình hợp tác đã trở thành một phần trong ký ức phát triển của đất nước.
Sau khi Liên Xô tan rã, quan hệ hai nước được định hình lại bằng Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị năm 1994, Đối tác chiến lược năm 2001 và Đối tác chiến lược toàn diện năm 2012.
Hơn 75 năm là một quãng thời gian rất dài trong quan hệ giữa hai quốc gia. Ký ức có thể giữ con người gần nhau nhưng chỉ ký ức thôi chưa đủ.
Thế giới hôm nay đang trải qua những biến động địa chính trị lớn. Việt Nam kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa. Những quan hệ đã được lịch sử thử thách vì thế càng cần được làm mới bằng những giá trị phù hợp với nhu cầu phát triển hôm nay.
Vì thế, chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lần này có thể được nhìn từ một câu hỏi khá thực tế: Niềm tin và tình anh em, đồng chí thủy chung, tin cậy giữa Việt Nam và Liên bang Nga sẽ tiếp tục tạo ra những giá trị gì cho hai nước trong những thập niên tới?
Kinh tế là nơi câu hỏi ấy hiện ra rõ nhất. Năm 2025, kim ngạch thương mại hai chiều đạt 4,77 tỷ USD, trong khi mục tiêu hai nước hướng tới cho năm 2030 là 15 tỷ USD. Khoảng cách giữa chiều sâu của quan hệ chính trị và quy mô trao đổi kinh tế vẫn còn khá lớn. Nó chỉ có thể được thu hẹp bằng những việc rất cụ thể: thanh toán thuận lợi hơn, tuyến vận tải ổn định hơn, chi phí logistics cạnh tranh hơn và doanh nghiệp tận dụng tốt hơn Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á - Âu.
Bởi vì tuy khoảng cách từ Hà Nội đến Moscow trên bản đồ không thể thay đổi nhưng thời gian vận chuyển một lô hàng, số chặng trung chuyển hay chi phí một container hoàn toàn có thể thay đổi. Những đường bay trực tiếp được khôi phục cũng cho thấy khoảng cách giữa con người có thể được rút ngắn theo cách rất cụ thể.
Năng lượng và khoa học công nghệ có thể tạo ra những giá trị dài hạn hơn. Tháng 3 năm nay, Việt Nam và Nga ký hiệp định hợp tác xây dựng nhà máy điện hạt nhân trên lãnh thổ Việt Nam. Vietsovpetro là một dự án hợp tác thành công và đã để lại nhiều hơn sản lượng và doanh thu, đó là đội ngũ kỹ sư, kinh nghiệm quản lý và năng lực kỹ thuật. Những dự án Việt - Nga thế hệ mới cũng được nhìn bằng thước đo ấy: sau công trình, đất nước giữ lại được đội ngũ nào, tri thức nào và năng lực nào để tiếp tục đi xa hơn.

Năm 2026 được hai nước xác định là Năm hợp tác khoa học và giáo dục. Hội nghị Hiệu trưởng Việt Nam - Liên bang Nga lần thứ ba tại Hà Nội diễn ra hồi tháng 5 quy tụ lãnh đạo 68 trường đại học Việt Nam và 62 trường đại học Nga. Giá trị lâu dài sẽ nằm ở những nhóm nghiên cứu chung, chương trình đào tạo chất lượng cao và những người trẻ đi lại, giao lưu, nghiên cứu khoa học giữa hai nước.
Để mỗi thế hệ có một câu chuyện của riêng mình
Ở đây còn một ý nghĩa cực kỳ sâu sắc của quan hệ Việt - Nga: sự đồng cảm văn hóa.
Nhiều thế hệ người Việt từng biết đến nước Nga từ trước khi đặt chân tới đó. Họ gặp nước Nga qua Tolstoy, Pushkin, Dostoevsky, qua những bộ phim, những bài hát... Rồi sự gần gũi ấy được nối dài bằng những người thầy, bạn học và năm tháng học tập tại Liên Xô. Chiến tranh và Hòa bình đã trở thành tác phẩm bất hủ của văn học thế giới. Đôi bờ, Chiều Moscow, Kachiusa cũng đã vượt qua thời đại mà chúng ra đời để sống trong ký ức nhiều thế hệ.
Tới hôm nay, các ca khúc, tiểu thuyết, bài hát Nga ấy vẫn là tượng đài, là kinh điển của thời đại. Thương mại, năng lượng, khoa học và công nghệ tạo ra những lợi ích cụ thể, văn hóa giúp con người hiểu vì sao họ muốn tiếp tục đi cùng nhau. Khi người trẻ hai nước học cùng nhau, nghiên cứu cùng nhau, đọc những tác phẩm của nhau và có những người bạn ở đất nước của nhau, quan hệ Việt - Nga sẽ được củng cố, bồi đắp và rất khó thay thế.
Quá khứ đã tạo ra lòng tin và một nền tảng văn hóa hiếm có. Thế hệ mới sẽ tiếp tục tìm được con đường của riêng mình tới nước Nga, cũng như người trẻ Nga cần những lý do mới để hiểu và yêu Việt Nam. Và chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ tiếp tục bắc những nhịp cầu cho thế hệ trẻ của hai nước như thế.
Tôi lại nghĩ tới Yasnaya Polyana. Tấm giấy viết bằng bút chì đỏ năm 1941 đã không thể ngăn chiến tranh tràn qua điền trang của Tolstoy. Nhưng khoảnh khắc những con người trong đội quân phát xít vẫn nhận ra giá trị vượt thời đại của một nhà văn Nga tới nay đã lưu truyền được 80 năm. Văn hóa đôi khi có một sức mạnh rất kỳ lạ. Đó là ngay trong những thời khắc khắc nghiệt nhất, con người vẫn có thể nhận ra ở phía bên kia những giá trị mà mình kính trọng.
Chiến tranh và Hòa bình rồi sẽ còn được đọc. Đôi bờ rồi sẽ còn được hát. Nhưng để quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga tiếp tục bền vững trong những thập niên tới, mỗi thế hệ vẫn cần tự tạo thêm những ký ức và sự đồng cảm của riêng mình.
Nhìn lại con đường hơn 3/4 thế kỷ đã cùng đi, tôi vẫn muốn mượn một câu hát Nga rất quen thuộc để nói một điều thật giản dị về hai đất nước của chúng ta: “Đôi bờ đâu cách xa”. Bởi đôi bờ ấy chưa bao giờ xa cách, qua cả Chiến tranh và Hòa bình.

