Ký uỷ quyền để nhận đền bù, không ngờ bị mất đất

Theo trình bày của bà A. (ngụ tỉnh Nghệ An), năm 2019, bà nhận chuyển nhượng thửa đất 127m2 tại tỉnh Khánh Hòa từ bà G. với giá 900 triệu đồng và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đến tháng 6/2022, bà G. thông báo khu đất thuộc diện có thể giải phóng mặt bằng và đề nghị bà A. lập hợp đồng ủy quyền để thay mặt làm việc với cơ quan chức năng, nhận tiền đền bù. Tin tưởng, bà A. ký hợp đồng tại văn phòng công chứng mà không đọc kỹ nội dung.

Sau đó, bà A. không nhận được bất kỳ thông tin nào về tiến độ hay tiền đền bù. Cuối năm 2022, bà mất liên lạc với bà G. Khi kiểm tra lại hợp đồng, bà phát hiện nội dung ủy quyền cho phép bà G. toàn quyền quản lý, sử dụng và định đoạt thửa đất trong thời hạn 25 năm. Hợp đồng còn có dấu hiệu sai lệch về thời điểm ký.

Nghi ngờ bị lợi dụng, bà A. gửi đơn đề nghị ngăn chặn giao dịch. Tuy nhiên, ngay sau đó, bà G. vẫn ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất cho chồng mình là ông T. (hai người đã ly hôn vào tháng 1/2024) mà không thông báo cho bà A.

Cho rằng quyền lợi bị xâm phạm, bà A. khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền, đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa bà G. và ông T.

W-Bãi dài (3).jpg
Ảnh minh họa: Hoàng Hà

Phía bị đơn, bà G. cho rằng hợp đồng ủy quyền được lập nhằm hỗ trợ tài chính cho bà A., đồng thời khẳng định việc chuyển nhượng là hợp pháp do hợp đồng vẫn còn hiệu lực. Ông T. cũng cho rằng mình nhận chuyển nhượng ngay tình và đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính.

Tại phiên tòa sơ thẩm, TAND khu vực 1 – Khánh Hòa nhận định bà G. đã vi phạm nghĩa vụ của người được ủy quyền, đặc biệt là nghĩa vụ thông báo và có dấu hiệu lạm dụng quyền để chuyển nhượng tài sản trái ý chí của bà A.

Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy hợp đồng ủy quyền năm 2022 và hợp đồng chuyển nhượng năm 2023; buộc bà G. hoàn trả 100 triệu đồng cho ông T. theo số tiền ghi trong hợp đồng (thực tế giao dịch chỉ 90 triệu đồng) và các bên trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà A. Đồng thời, tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, cấm chuyển dịch quyền đối với thửa đất.

Không đồng ý, bà G. và ông T. kháng cáo.

Vợ bán đất cho chồng có đúng quy định pháp luật?

Tại phiên phúc thẩm, TAND tỉnh Khánh Hòa xác định việc bà G. – với tư cách người được ủy quyền – chuyển nhượng đất cho chồng trong thời kỳ hôn nhân là vi phạm nghiêm trọng pháp luật.

Theo tòa, do quan hệ vợ chồng, tài sản được xem là tài sản chung nên giao dịch này thực chất là “chuyển nhượng cho chính mình”, vi phạm quy định cấm người đại diện xác lập giao dịch với chính mình theo Bộ luật Dân sự.

Ngoài ra, mức giá chuyển nhượng 100 triệu đồng được đánh giá là bất thường, thấp hơn rất nhiều so với giá trị thực tế (1,4 tỷ đồng), xâm phạm quyền lợi của bà A.

Tòa cũng xác định bà G. vi phạm nghĩa vụ thông báo trong quá trình thực hiện ủy quyền, dẫn đến việc hợp đồng ủy quyền chấm dứt khi bà A. khởi kiện.

Từ đó, Hội đồng xét xử kết luận hợp đồng chuyển nhượng là giả tạo, vi phạm điều cấm của pháp luật nên vô hiệu ngay từ đầu. Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Cụ thể, bà G. phải trả lại 90 triệu đồng cho ông T. Đồng thời, ông T. không được xem là bên thứ ba ngay tình do trực tiếp tham gia giao dịch với chính người đại diện của mình.