Công nghệ – “điểm tựa” cho chuyển đổi xanh ngành dệt may
Theo Bộ Công Thương, tỷ lệ nội địa hóa của ngành dệt may Việt Nam hiện mới đạt khoảng 40–45%, trong đó khâu vải vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu. Sản lượng vải trong nước đạt khoảng 2,3 tỷ m² mỗi năm, song mới chỉ đáp ứng được khoảng 25% nhu cầu của thị trường nội địa. Thực trạng này cho thấy công nghiệp hỗ trợ dệt may – nền tảng của toàn ngành – vẫn còn nhiều hạn chế.
Nguyên nhân cốt lõi nằm ở sự kém phát triển của các ngành sản xuất bông, sợi và đặc biệt là dệt – nhuộm. Công nghệ nhuộm vải lạc hậu, cùng với việc xử lý môi trường chưa được đầu tư tương xứng, đã trở thành “điểm nghẽn” lớn, khiến nhiều doanh nghiệp e ngại mở rộng sản xuất dệt vải. Hệ quả là ngành dệt may Việt Nam vẫn chủ yếu dừng ở khâu may gia công, hàm lượng giá trị gia tăng nội địa thấp, khó tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu xanh hóa đang trở thành điều kiện bắt buộc. Theo Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS), ngành dệt may hiện phát thải khoảng 1,2 tỷ tấn CO₂ mỗi năm trên toàn cầu – cao hơn cả ngành hàng không và hàng hải cộng lại. Lượng phát thải lớn xuất phát từ việc tiêu thụ nhiều nước, năng lượng và hóa chất trong quá trình nhuộm, hoàn tất vải.

Trước áp lực từ các thị trường xuất khẩu lớn và xu hướng tiêu dùng xanh, nhiều doanh nghiệp dệt may Việt Nam đã chủ động ứng dụng công nghệ mới ngay từ khâu thiết kế, sản xuất đến xử lý chất thải. Chuyển đổi số, tự động hóa và áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng đang dần trở thành “điểm tựa” giúp doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh.
Ông Lê Tiến Trường, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), cho biết tập đoàn đã triển khai đồng thời các giải pháp then chốt như chuyển đổi số, nâng cao tỷ lệ xanh của sản phẩm, đầu tư công nghệ 4.0 và tái cơ cấu mô hình sản xuất. Đến nay, tỷ lệ sản phẩm xanh của Vinatex đã đạt khoảng 25%; sản lượng sợi từ nguyên liệu tái chế tăng đều qua các năm, riêng năm 2024 đạt gần 17.864 tấn.
Không chỉ dừng ở công nghệ, mô hình sản xuất của doanh nghiệp dệt may cũng đang chuyển dịch từ gia công truyền thống (CMT) sang các phương thức có giá trị gia tăng cao hơn như FOB, tiến tới ODM và OBM. Việc đầu tư các trung tâm nghiên cứu và phát triển sản phẩm xanh, vải chức năng được xem là bước đi quan trọng để doanh nghiệp chủ động thích ứng xu hướng toàn cầu hóa.
Để hỗ trợ doanh nghiệp, Bộ Công Thương cũng đã đề xuất xây dựng Trung tâm sản xuất, lưu trữ và kinh doanh nguyên liệu thô cho ngành dệt may và da giày, qua đó từng bước giải quyết bài toán thiếu hụt nguyên phụ liệu trong nước.
Gỡ nút thắt vốn, nhân lực và chính sách cho công nghiệp hỗ trợ
Dù đã xuất hiện những tín hiệu tích cực, quá trình xanh hóa công nghiệp hỗ trợ dệt may vẫn đối mặt không ít thách thức. Theo ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch VITAS, rào cản lớn nhất là chi phí đầu tư. Các công nghệ tiết kiệm năng lượng, xử lý nước thải, thiết bị sản xuất thân thiện môi trường đều đòi hỏi nguồn vốn lớn, trong khi phần lớn doanh nghiệp dệt may Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ, năng lực tài chính còn hạn chế.
Bên cạnh đó, không ít doanh nghiệp thiếu thông tin, thiếu nguồn nhân lực có kỹ năng vận hành các hệ thống sản xuất mới. Các tiêu chuẩn môi trường quốc tế ngày càng khắt khe, đòi hỏi sự đầu tư bài bản và lộ trình dài hạn, khiến nhiều doanh nghiệp gặp khó trong việc đáp ứng ngay.
Về giải pháp, theo ông Trương Văn Cẩm, doanh nghiệp cần ưu tiên đầu tư công nghệ tiết kiệm năng lượng, nước và sử dụng hóa chất thân thiện môi trường; đồng thời từng bước chuyển sang sử dụng năng lượng tái tạo như điện mặt trời áp mái, nồi hơi sinh khối, tái sử dụng nhiệt thải để giảm phát thải carbon. Song song với đó là tái cấu trúc chuỗi cung ứng theo hướng tuần hoàn, tăng tỷ lệ nguyên liệu tái chế và đăng ký các chứng nhận xanh để đáp ứng yêu cầu của các thương hiệu toàn cầu.
Ở góc độ quản lý nhà nước, TS Nguyễn Văn Hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương, cho biết Bộ Công Thương đã và đang triển khai nhiều chương trình hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận công nghệ, đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng cao của thị trường quốc tế. Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia được định hướng theo hướng bền vững; các chương trình khuyến công và công nghiệp hỗ trợ đã hỗ trợ hiệu quả cho ngành dệt may, da giày trong phát triển nguyên, phụ liệu đạt chuẩn.
Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng cần sớm hoàn thiện chính sách tín dụng xanh riêng cho ngành dệt may, với lãi suất ưu đãi và thủ tục tiếp cận thuận lợi hơn. Việc miễn, giảm thuế nhập khẩu thiết bị xanh, kết nối doanh nghiệp với các quỹ khí hậu quốc tế, cũng như tăng cường đào tạo nhân lực và xây dựng các trung tâm tư vấn chuyển đổi xanh theo vùng, ngành là những giải pháp cần thiết.
Xanh hóa công nghiệp hỗ trợ dệt may không còn là lựa chọn, mà đã trở thành con đường “sống còn” của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt. Khi đổi mới công nghệ được đặt ở vị trí trung tâm, doanh nghiệp không chỉ tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm mà còn khẳng định trách nhiệm với môi trường và cộng đồng.
Theo Chiến lược phát triển ngành dệt may đến năm 2030, Việt Nam sẽ chuyển dần từ phát triển nhanh sang phát triển bền vững; giai đoạn 2031–2035 hướng tới hoàn thiện chuỗi giá trị trong nước và tham gia ở vị trí có giá trị cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong lộ trình đó, xanh hóa công nghiệp hỗ trợ chính là nền móng quyết định.
Hiệp Nguyễn