Lời tòa soạn: Nửa thế kỷ trước, Quốc hội quyết nghị đặt tên Thành phố Hồ Chí Minh cho đô thị Sài Gòn - Gia Định, ghi dấu một sự kiện có ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử dân tộc. Từ đó đến nay, thành phố mang tên Bác không chỉ trở thành đầu tàu kinh tế của cả nước, mà còn nhiều lần tiên phong mở đường cho những đổi mới về tư duy phát triển và thể chế. Nhân kỷ niệm 50 năm thành phố chính thức mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026), VietNamNet giới thiệu loạt bài nhìn lại hành trình từ lịch sử hình thành danh xưng thiêng liêng đến những dấu ấn phát triển nổi bật, qua đó khắc họa bản lĩnh, khát vọng và vai trò tiên phong của thành phố trong chặng đường đồng hành cùng đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.

'Hai lần đi trước về sau'

Theo PGS.TS Hà Minh Hồng - Phó chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử TPHCM, vùng đất Sài Gòn - Gia Định gắn với hai cột mốc đấu tranh quan trọng. Lần thứ nhất, rạng sáng 17/2/1859, liên quân Pháp - Tây Ban Nha tấn công cửa biển Cần Giờ, mở đầu cuộc xâm lược của thực dân phương Tây vào Việt Nam. Hơn 86 năm sau, sáng 23/8/1945, tại Hội nghị Chợ Đệm lần thứ ba, Xứ ủy Nam Kỳ quyết định phát động Tổng khởi nghĩa ở Gia Định, Chợ Lớn và Sài Gòn, giành chính quyền về tay nhân dân.

W-PGS Ha Minh Hong 4.png
PGS.TS Hà Minh Hồng, Phó chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử TPHCM, cựu chiến binh kháng chiến chống Mỹ, nguyên Trưởng khoa Lịch sử, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐH Quốc gia TPHCM. Ảnh: Phước Sáng

Danh xưng Gia Định xuất hiện từ năm 1698 khi chúa Nguyễn Phúc Chu lập phủ Gia Định; đến thời Minh Mạng trở thành tỉnh Gia Định, một trong sáu tỉnh Nam Kỳ. Tên Sài Gòn được dân gian lưu truyền từ thế kỷ 17, được Lê Quý Đôn ghi chép năm 1774. Cuối thế kỷ 19, chính quyền Pháp chính thức dùng tên Sài Gòn (1877) và Chợ Lớn (1879) làm tên hành chính; đến năm 1931 hai khu vực được sáp nhập thành Khu Sài Gòn - Chợ Lớn.

Lần thứ hai, chiều 2/9/1945, nhân dân Sài Gòn - Gia Định đón nghe lời Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập từ Hà Nội. Ba tuần sau, Xứ ủy Nam Bộ tại Hội nghị Cây Mai (23/9/1945) phát động toàn Nam Bộ kháng chiến bảo vệ thành quả cách mạng. Trưa 30/4/1975, Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc tại Sài Gòn, khép lại 30 năm kháng chiến bằng "ngày vui đại thắng" của cả dân tộc.

Trong giai đoạn 1945-1975, vùng đất này từng được gọi bằng nhiều tên khác nhau theo từng giai đoạn chính trị: Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn (1951), Đô thành Sài Gòn (1956); phía cách mạng gọi chung là Khu/Đặc khu/Quân khu Sài Gòn - Gia Định. Sau ngày thống nhất, tháng 5/1975, tỉnh Gia Định (trừ Cần Giờ) cùng một phần các tỉnh Long An, Bình Dương, Hậu Nghĩa được sáp nhập với Đô thành Sài Gòn cũ, lập thành Thành phố Sài Gòn - Gia Định.

Đề xuất từ năm 1946 trên báo Cứu Quốc

Giữa hai cột mốc lịch sử ấy là một câu chuyện đặc biệt, khởi đầu từ bác sĩ Trần Hữu Nghiệp. Ngày 25/8/1946, tại Hà Nội, trong cuộc gặp mặt nhân kỷ niệm một năm chính quyền cách mạng, bác sĩ Nghiệp cùng cán bộ, đồng bào Nam Bộ đang hoạt động ở Thủ đô đã đề xuất đổi tên Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh, để ghi nhận công đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với dân tộc.

Báo Cứu Quốc số 329, ra ngày 27/8/1946, đăng trên trang nhất bài viết về sự kiện này. Theo nội dung được ghi lại, toàn thể những người có mặt đã tán thành đề nghị xin Quốc hội và Chính phủ đổi tên thành phố Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh, với 57 người đồng ký tên, trong đó có bác sĩ Trần Hữu Nghiệp, luật sư Trần Công Tường, bác sĩ Nguyễn Tấn Gi Trọng, bà Đỗ Đình Thiện, ông Hoàng Quốc Việt và ông Tôn Đức Thắng.

Tư liệu Báo Cứu Quốc TPHCM
Nội dung đề xuất đổi tên thành phố Sài Gòn được đăng trên báo Cứu Quốc. Ảnh tư liệu

Thời điểm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đang ở Pháp tham gia các cuộc đàm phán quan trọng. Chưa có tư liệu khẳng định Người biết trực tiếp về đề xuất này, nhưng trước khi sang Pháp, Người đã từng nhắn nhủ đồng bào Nam Bộ giữ vững niềm tin vào sự thống nhất đất nước.

Tại cuộc gặp mặt với Việt kiều và những người Pháp có cảm tình với Việt Nam ở Paris tối 2/9/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh tình cảm đặc biệt dành cho đồng bào Nam Bộ và nguyện vọng đất nước không bị chia cắt. Chính tình cảm ấy đã thúc đẩy quân dân miền Nam noi theo con đường của Bác, sẵn sàng hy sinh để giành thắng lợi, với mong mỏi sớm đón được Bác vào Nam.

Quyết nghị của Quốc hội sau 30 năm

Trong suốt 30 năm kháng chiến, gồm 9 năm chống Pháp và 21 năm chống Mỹ, tên gọi "Thành phố Hồ Chí Minh" đã dần đi vào tâm thức người dân và những người lính ở chiến trường.

Năm 1954, trong tác phẩm "Ta đi tới", nhà thơ Tố Hữu đã viết về "thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng". Ngày 2/5/1975, báo Nhân Dân đăng bài tường thuật của nhà báo Trần Mai Hạnh ghi lại thời điểm tiến vào Dinh Độc Lập, trong đó nhắc đến tên gọi này.

Báo Sài Gòn Giải Phóng số đầu tiên (5/5/1975) cũng đề cập thành phố "vinh dự được mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại". Cùng thời gian này, bài hát "Tiếng hát từ thành phố mang tên Người" của các nhạc sĩ Đăng Trung, Cao Việt Bách ra đời.

Ngày 12/5/1975, tạp chí Time (Mỹ) trong số đặc biệt về kết thúc chiến tranh Việt Nam đã ghi chú "Ho Chi Minh City" trên bản đồ tại vị trí Sài Gòn.

Quyết nghị của Quốc hội ngày 2/7/1976 ghi: “Xét rằng nhân dân thành phố Sài Gòn - Gia Định luôn luôn tỏ lòng kính yêu vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và tha thiết với việc thành phố mang tên Người”; “Xét rằng, trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài và gian khổ, thành phố Sài Gòn - Gia Định đã không ngừng phát huy truyền thống kiên cường, bất khuất của dân tộc ta, lập nhiều chiến công xuất sắc, xứng đáng được vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”. 

Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI (24/6 - 3/7/1976) đã chính thức quyết nghị đặt tên thành phố Sài Gòn - Gia Định là Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo PGS.TS Hà Minh Hồng, đây là việc Quốc hội "đặt tên", không phải "đổi tên" - dựa trên căn cứ lịch sử riêng có của Sài Gòn - Gia Định, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước và nơi Nam Bộ luôn đi trước về sau trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Tự hào thành phố mang tên Bác qua 50 năm

PGS.TS Hà Minh Hồng nhận định, danh xưng Sài Gòn - Gia Định gắn liền với lịch sử anh hùng của thành phố trong đấu tranh vì độc lập, tự do, hòa bình và thống nhất Tổ quốc, đồng thời gắn liền với tình cảm, niềm tin và tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với đồng bào, cán bộ, chiến sĩ miền Nam.

w tphcm nguyen hue 35 27278.jpg
TPHCM bứt phá với loạt dự án giao thông hiện đại. Ảnh: N.H  

Việc thành phố được mang tên Người, theo ông, là một quá trình kéo dài 30 năm, đi từ một sáng kiến cá nhân của bác sĩ Trần Hữu Nghiệp trở thành tâm nguyện chung của đông đảo trí thức, nhân sĩ yêu nước, gắn với nhận thức ngày càng sâu sắc về vị trí của Sài Gòn trong sự nghiệp kháng chiến giành độc lập, thống nhất, cũng như trong quá trình đi lên xây dựng và đổi mới đất nước sau này.

Nhìn lại 50 năm thành phố mang tên Bác (1976-2026), PGS. Hồng cho rằng đây là niềm tự hào chính đáng, bắt nguồn từ hiện thực lịch sử: từ chính thành phố này, người thanh niên Văn Ba đã ra đi tìm đường cứu nước, chuẩn bị khởi nghiệp cho cả dân tộc đi đến độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất.

Đó cũng là biểu tượng cho tinh thần chiến đấu, hy sinh và ý chí gắn bó với Tổ quốc của nhân dân thành phố - nơi luôn mang tinh thần "vì cả nước, cùng cả nước" và được cả nước hướng về, như một cách ghi nhớ công đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của dân tộc Việt Nam.

Thành phố mang tên Bác không ngừng đổi thay để xứng đáng với tên gọi

Trao đổi thêm với VietNamNet, PGS.TS Hà Minh Hồng cho rằng, trải qua 30 năm chiến tranh và 51 năm hòa bình, tình cảm hai chiều giữa Bác Hồ với đồng bào miền Nam đã trở thành một động lực lớn. Chính tình cảm ấy đã thúc đẩy quân dân miền Nam noi theo con đường của Bác, sẵn sàng hy sinh để giành thắng lợi.

Sau ngày đất nước thống nhất, khát khao ấy chuyển thành hành động cụ thể: làm sao để thành phố mang tên Bác xứng đáng với tên gọi đó. Theo ông, đây chính là động lực cho những thay đổi liên tục của thành phố đến hôm nay, đặc biệt về cơ sở hạ tầng - yếu tố tạo ra sự kết nối xã hội. Nếu thời chiến tranh, đô thị bị kiểm soát gắt gao, đô thị hóa mang tính cưỡng bức, thì sau ngày 30/4/1975, sự kết nối ấy đã mang lại tự do, thuận lợi cho việc đi lại, lập nghiệp, trở về quê hay quay lại thành phố.

PGS dẫn chứng hệ thống cầu đường như một minh chứng rõ nét: cầu Sài Gòn hiện đã rộng gấp ba, cầu Tân Thuận có thêm cầu Tân Thuận 2, những con đường đất đá trước đây đã trở thành đại lộ, đường vành đai, đường sắt đô thị. Một ví dụ khác là kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè: từ thế kỷ 19 đến năm 1980, tình trạng "xóm nước đen", nhà ổ chuột không được giải quyết, nhưng chỉ 10 năm sau giải phóng, dòng kênh đã được cải tạo thành cảnh quan phục vụ du lịch sông nước.

Tinh thần "đi trước, làm mẫu" bắt nguồn từ gian khổ thời chiến tranh

Đánh giá về tinh thần "đi trước, làm mẫu" của TPHCM, PGS. Hồng cho rằng bản chất của tinh thần này là dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm - điều đã hình thành từ trong gian khổ thời chiến tranh, khi người dân phải tìm cách vượt qua khó khăn chứ không chấp nhận nó.

"Đi trước không phải là liều mạng, mà là sự táo bạo và sáng tạo, nhằm mang lại lợi ích cho người dân, không phải để có danh, có tiếng, đúng với điều Bác Hồ từng dạy: 'Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm; việc gì hại cho dân, ta phải hết sức tránh'" - ông Hồng nhận định.

Để làm được điều đó, ông cho rằng cần có một niềm tin lớn: lãnh đạo tin dân, dân tin lãnh đạo và Trung ương tin cậy thành phố. Chính niềm tin của Trung ương đã khiến TPHCM nhiều lần được chọn làm nơi thí điểm các cơ chế mới, trong đó có mô hình chính quyền hai cấp hiện nay.

PGS.TS Hà Minh Hồng cũng chia sẻ thêm về tinh thần "TPHCM vì cả nước, cả nước vì TPHCM" bắt nguồn từ yêu cầu lịch sử đặt ra từ sau Cách mạng Tháng Tám, khi thành phố phải đi đầu trong kháng chiến và luôn có sự đồng hành của quân dân cả nước, từ những đoàn quân Nam tiến năm 1945 đến sự chia sẻ trong suốt 30 năm chiến tranh. Ngày nay, khi đến Đền tưởng niệm Bến Dược (Củ Chi), nơi thờ những người con của cả nước đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước... Đó là một minh chứng cho tinh thần ấy.

Bên cạnh đó, tinh thần này tiếp tục thể hiện qua việc thành phố đi đầu tháo gỡ những cơ chế khó khăn không chỉ cho riêng mình mà cho cả nước. Đến nay, tinh thần này đã được nâng lên thành phương châm chỉ đạo của Trung ương trong Nghị quyết 09, trở thành một giá trị văn hóa, bản sắc của thành phố nghĩa tình, nơi cưu mang con người từ mọi miền đất nước.

Là người từng tham gia kháng chiến chống Mỹ, PGS.TS Hà Minh Hồng nhìn nhận sự thay đổi diện mạo thành phố từ 1975 đến nay là rất lớn: từ một đầu não của bộ máy chiến tranh trở thành trung tâm kinh tế - văn hóa - xã hội của cả nước ở phía Nam. Chỉ trong 10 năm đầu sau giải phóng, "vành đai trắng" ở ngoại thành đã chuyển hóa thành "vành đai xanh", xóa dần dấu tích chiến tranh.

Nhìn về tương lai, ông khẳng định thành phố được Quốc hội đặt tên vì xứng đáng và 50 năm qua vẫn tiếp tục xứng đáng với tên Bác. Song, để giữ được điều đó, thành phố cần tiếp tục giữ những giá trị đã hình thành: tinh thần đi trước, năng động sáng tạo, nghĩa tình, khả năng tháo gỡ khó khăn không chỉ cho mình mà cho cả nước.

Trong giai đoạn mới, ông kỳ vọng phương châm "TPHCM vì cả nước, cả nước vì TPHCM" sẽ trở thành định hướng phát triển và đặt thành phố vào vị trí siêu đô thị - biểu tượng năng động của Việt Nam trong thế kỷ 21, nơi hội tụ năng lực cạnh tranh toàn cầu.