Việc cần làm ở đây là khoanh vùng những điểm nhạy cảm có thể gây bất đồng trong đàm phán.

Vấn đề quan trọng nhất là lộ trình thực hiện COC sẽ như thế nào vì đàm phán là quá trình thỏa hiệp và thống nhất ý kiến. COC vẫn có thể hình thành vào cuối năm 2013 theo mong muốn của ASEAN. Nhưng nội dung của nó như thế nào mới là quan trọng.

Ba điểm mà ASEAN sẽ gặp khó khăn nhất với TQ là cơ chế trách nhiệm (phải bồi thường, chế tài hoặc có các hành vi khắc phục tương ứng), cơ chế tòa án hay trọng tài để giải quyết tranh chấp xảy ra giữa hai bến nếu có và những quy định và liên kết giữa COC và UNCLOS, trong đó COC sẽ có một bản thống nhất về UNCLOS giữa các nước như cách xác định đảo, đá, vùng đặc quyền kinh tế (và đụng chạm bản đồ chữ U). Thiếu một trong 3 điểm này thì COC sẽ giảm đi mất nhiều tác dụng. Do đó, cần "phải mượn gió Đông" để tăng cường ưu thế thương lượng của ASEAN quá trình đàm phán qua: (i) phác thảo một lộ trình đàm phán phù hợp để thảo luận Trung Quốc đồng ý từng điểm một, và (ii) tạo sức ép từ các cường quốc khác, đặc biệt là vai trò của Mỹ.

Các nước ASEAN đã thống nhất phần nào về quan điểm, việc cần làm ở đây là  khoanh vùng những điểm nhạy cảm có thể gây bất  đồng. Việc đạt được một thống nhất nội khối về ba điểm ở trên trước khi đàm phán với Trung Quốc là vô cùng quan trọng vì kinh nghiệm từ quá trình đàm phán COC (1996 - 2002) đã cho thấy rằng nếu các nước ASEAN không thể thống nhất ý kiến, thì chắc chắn đàm phán sẽ rơi vào bế tắc. Lúc đó, sẽ phải thỏa hiệp và chấp nhận một thể chế tạm thời lỏng lẻo như DOC thay vì COC thực sự.

Thử sức tại một diễn đàn lớn hơn, Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), nơi Ngoại trưởng Mỹ sẽ tham dự các phiên họp. Tại đây, các nước ASEAN sẽ cố gắng đưa COC ra thảo luận và tham vấn đa phương cũng như tham khảo  ý kiến của nhiều đối tác đối thoại của ASEAN, mà tiêu biểu là Mỹ, Nhật, EU hay Ấn Độ để tìm kiếm sự ủng hộ qua đó tạo sức ép lớn hơn lên Trung Quốc trong quá trình đàm phán COC.

Tại hội thảo này, cần chắc chắn tất cả các điểm cần thiết đã được thông qua và chỉnh sửa cho phù hợp tình hình. Ít nhất phải khiến Trung Quốc chấp nhận một trong ba điểm ở trên, vì nếu không, các bước đi thúc ép Trung Quốc dần dần chấp nhận các điều khoản sau đó sẽ không đạt được kết quả như mong muốn.

Các chuyên gia nhận định rằng thượng đỉnh cấp cao Đông Á (EAS) sẽ là cơ hội tốt kế tiếp để ASEAN tiếp tục đưa vấn  đề COC ra lần nữa ở góc độ đa phương. Mặc dầu nhiều ý kiến nghi ngờ tính hiệu quả cuả EAS như một hội nghị "cao cấp nhất" của khu vực, nhưng đây là một trong những nơi ASEAN có thế cân bằng thế sức mạnh của Trung Quốc với sự tham gia của nhiều cường quốc trong lẫn ngoài vùng, đặc biệt là quy chế thành viên của Mỹ.

Trong thời gian vừa qua, nước Mỹ đã thể hiện mình là một thành viên có trách nhiệm và có quan điểm thống nhất về giải quyết tranh chấp trên biển Đông theo luật pháp quốc tế. Mỹ đã ủng hộ và  tuyên bố sẽ hỗ trợ thúc đẩy xây dựng COC với vai trò trung tâm của ASEAN, đồng thời kêu gọi các nước giải quyết tranh chấp trên biển  Đông bằng biện pháp hòa bình dựa trên cơ sở  của UNCLOS.

{keywords}
COC vẫn có thể hình thành vào cuối năm 2013 theo mong muốn của ASEAN

Có rất nhiều lý do để Mỹ ủng hộ "thể chế  hóa" vấn đề biển Đông. Thứ nhất là vì Mỹ không phải là nước có  tranh chấp trực tiếp, do đó không thể ngang nhiên can thiệp vào khu vực, mà chỉ có thể dựa vào luật pháp và thể chế để thúc ép các quốc gia khác. Thứ hai, dù Mỹ có thể can thiệp nhưng việc đối đầu với Trung Quốc, quốc gia có năng lực quân sự thứ ba trên thế  giới sẽ gây ra những tổn thất nặng nề cho cả hai bên, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế Mỹ đang gặp nhiều vấn đề.

Thứ ba, việc Trung Quốc yêu sách về biển Đông sẽ ảnh hưởng lâu dài đến lợi ích và vị trí  của Mỹ tại châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời giao thương và các tuyến đường hàng hải huyết mạch sẽ bị nước này khống chế, nhưng Mỹ lại không thể can thiệp quân sự. Thứ  tư, để có thể giải quyết các mâu thuẫn hàng hải trong tương lai và bảo vệ lợi ích lâu dài thì Mỹ cần phải thúc đẩy một hệ  thống luật pháp vững chắc, từ đó góp phần giảm thiểu việc sử dụng vũ lực, đồng thời cắt giảm các chi phí quân sự.

Cuối cùng, uy tín và niềm tin của thế giới với nước Mỹ  đã bị tổn hại nghiêm trọng do các cuộc chiến tranh suốt từ đầu thế kỉ 21 đến nay, vì  vậy, nếu có thể can thiệp mà không cần gây chiến sẽ là biện pháp tốt nhất. Ngoài ra, để các thể chế hoạt động độc lập mang tính ràng buộc các thành viên phụ thuộc vào một nhân tố mang vai trò "giám sát". Vì nếu có luật, nhưng không ai theo luật thì quá trình thể chế hóa cũng không thể thành công. Nhìn từ kinh nghiệm lịch sử thế giới, một lập luận nhấn mạnh rằng vai trò "giám sát" thường được đảm nhận bởi siêu cường sở hữu sức mạnh vượt trội nhất.

Vấn đề lớn nhất khiến Mỹ không thể thúc đẩy Trung Quốc tuân thủ luật pháp quốc tế (cụ thể  là UNCLOS) trên biển Đông chính là việc nước này chưa gia nhập UNCLOS. Vì nếu chỉ có COC, dù có ràng buộc pháp lý, thì vẫn chỉ là một Bộ quy tắc ứng xử cho khu vực, và vẫn tồn tại những bất đồng trong giải thích và quan điểm thực hiện. Nhưng lý do phản đối chủ yếu đến từ một số thành viên phe bảo thủ trong Đảng Cộng hòa. Lý do đưa ra để phủ quyết UNCLOS chủ yếu bảo vệ lợi ích kinh tế, không giới hạn về tự do hàng hải-quốc phòng.

Ngoài ra còn có  một khả năng nữa là có thể một số  thành viên Cộng hòa không muốn việc thông qua UNCLOS trở  thành một chiến thắng của Đảng Dân Chủ. Trong khi những thành viên chủ chốt của Đảng Cộng hòa như Henry Kissinger, Condoleezza Rice, James Baker III hay Colin Powell đều đã cùng lên tiếng ủng hộ việc Mỹ  nên gia nhập UNCLOS. Vì vậy, có nhiều chỉ  dấu để tiên đoán rằng trong tương lai gần Mỹ  sẽ gia nhập UNCLOS và thúc đẩy quá trình "thể chế hóa" trên biển Đông dựa trên các tiêu chuẩn chung của luật pháp quốc tế.

Trong bối cảnh ưu thế thương lượng của ASEAN vẫn còn đặt dưới câu hỏi hiệu năng, biết cách tạo đòn bẫy từ những yếu tố bên ngoài sẽ là "gió Đông" cần thiết để thúc đẩy con thuyền COC về đến đích đúng hẹn và mang đầy đủ các yếu tố nhất có thể như các ãnh dạo ASEAN mong muốn.

Nên nhìn nhận như thế nào về  vai trò của Mỹ trong việc hổ trợ và  thúc đẩy quá trình COC? Trả lời câu hỏi trên, thạc sĩ Trương Minh Huy Vũ (giảng viên khoa quan hệ quốc tế ĐH KHXH&NV TP.HCM, nghiên cứu sinh tại đại học Bonn, CHLB Đức) nhận xét:

Sự tái cân bằng chiến lược của Hoa Kỳ đóng vai trò tích cực trong vấn đề này với điều kiện cả ASEAN và Hoa Kỳ  đều đồng thuận rằng sức mạnh là phương tiện  để thuyết phục Trung Quốc, ngồi vào bàn đàm phán các điểm còn bất đồng, tạo ra một khung pháp lý minh bạch và ràng buộc hành động của các bên. Với ASEAN thì mục tiêu COC đã rõ. Với Mỹ,  ở hiện tại có hai góc nhìn khác nhau để  đánh giá vai trò của nước này.

Một phiên bản cứng cho rằng COC không nên chỉ là bộ quy tắc riêng giữa ASEAN và  Trung Quốc, mà nên là một hiệp ước chung cho tất cả các nước hoạt động trong khu vực biển Đông. Yêu cầu này dựa trên thực tế cho rằng tranh chấp hiện nay là sự đan xen giữa chủ  quyền lảnh thổ, và va chạm lãnh hải ở vùng đặc quyền kinh tế. ASEAN từng có tiền lệ qua Hiệp ước thân thiện và hợp tác (Treaty of Amity and Cooperation in Southeast Asia - TAC) với sự tham gia của cả Mỹ và Trung Quốc.

Phiên bản mềm thì nhấn mạnh vai trò  của một người "điều phối" hay "trọng tài"  trong quá trình đàm phán giữa các bên liên quan. Vai trò này thường được đảm nhận bởi siêu cường sở hữu sức mạnh vượt trội nhất. Trong vị trí "cảnh sát toàn cầu", siêu cường có nhiệm vụ kiểm tra và đôn đốc các thành viên khác cùng đồng thuận một luật chơi nhất định.

Từ góc nhìn ASEAN, phiên bản cứng dường như là một giải pháp tối ưu, nhưng ít có  khả  năng thực tiễn. Chưa kể việc Mỹ đến nay vẫn "dùng dằn" không thông qua Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS), ngay trong dự thảo COC mới đây do Indonesia đưa ra, có điều khoản về  hạn chế diễn tập quân sự, khó được Mỹ chấp nhận. Một hiệp ước pháp lý sẽ giới hạn khả năng tự do hoạt động biển của Mỹ.

Dường như thái độ của Mỹ  đến nay vẫn nằm phiên bản hai, nhưng chỉ trong mức  độ ủng hộ hay động viên, thay vì thúc  ép hay làm căng với Trung Quốc. Điều này phản ánh một mà giới quan sát ví von là sự "ỡm ờ chiến lược" (strategic ambiguity) trong mối quan hệ Mỹ-Trung: Một mặt nghĩ rằng mọi hành động của đối phương có thể gây tác động (tiêu cực) cho lợi ích của mình, vì vậy luôn cố gắng nêu vấn đề ra trong tuyên bố hay công luận trong lẫn ngoài nước. Mặt khác, do mối quan hệ phụ thuộc (kinh tế, chính trị, chiến lược) càng lớn, nên không thể có một quyết sách nhất quán hay quyết liệt.

Vũ  Thành Công-Nguyễn Thế Phương (Irys)