Sau giao dịch, bên bán đòi thêm tiền

Theo trình bày của bà T. (ngụ TP Hà Nội) tại tòa, năm 1996, vợ chồng bà đã mua hai căn nhà cấp 4 trên diện tích khoảng 160m2 đất thổ cư của gia đình ông N. với giá 110 lượng vàng.

Hai bên có lập hợp đồng ghi nhận rõ tài sản và ranh giới đất, nhưng chưa được chính quyền xác nhận do thời điểm đó bà T. chưa có hộ khẩu tại Hà Nội. Sau khi thanh toán đầy đủ, gia đình ông N. đã bàn giao nhà đất cho bà quản lý, sử dụng.

Sau đó, do xây nhà mới, gia đình ông N. mượn lại một phần nhà phía trong để ở tạm và đã trả lại khi hoàn tất xây dựng. Bà T. tiến hành cải tạo, xây dựng lại nhà, từng cho thuê làm xưởng mộc rồi đóng cửa không sử dụng.

W-Khu đô thị Nam An Khánh   Bất động sản (6).jpg
Ảnh minh họa: Thạch Thảo

Mâu thuẫn phát sinh năm 2006, khi bà T. làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông N. cho rằng bà T. còn nợ hơn 3 lượng vàng và khẳng định phần diện tích giáp mặt đường không thuộc phạm vi chuyển nhượng. Cuối năm 2006, ông N. tự ý phá cửa vào sử dụng phần diện tích này, xây tường ngăn và cho thuê làm cửa hàng.

Bà T. khẳng định đã thanh toán đầy đủ và khởi kiện yêu cầu trả lại phần diện tích mặt đường. Trong khi đó, ông N. cho rằng hai bên chỉ mua bán 140m2 (sau khi trừ 21m2 thuộc chỉ giới mở đường), đồng thời yêu cầu bà T. phải trả thêm tiền nếu muốn sử dụng phần mặt đường.

Tranh chấp hơn 23m2 nhà đất

Tại phiên tòa sơ thẩm, TAND TP Hà Nội đã chấp nhận yêu cầu của bà T., buộc gia đình ông N. trả lại 23,4m2 nhà đất mặt đường. Bà T. phải thanh toán hơn 13,7 triệu đồng chi phí cải tạo. Đồng thời, bà được quyền mở lối đi và hoàn tất thủ tục pháp lý về quyền sử dụng đất.

Không đồng ý, vợ chồng ông N. kháng cáo, đề nghị hủy hợp đồng với lý do bà P. (vợ ông N.) không biết, không đồng ý việc chuyển nhượng. Viện trưởng Viện KSND tối cao cũng kháng nghị, đề nghị buộc ông N. tháo dỡ công trình xây dựng trái phép trên phần đất tranh chấp và không chấp nhận việc bà T. phải bồi thường chi phí cải tạo.

Tháng 9/2008, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội đã bác kháng cáo, đồng thời chấp nhận kháng nghị. Bản án buộc ông N. trả lại toàn bộ 23,4m2 đất, tự chịu chi phí cải tạo và tháo dỡ công trình vi phạm.

Sau đó, vợ chồng ông N. tiếp tục khiếu nại, cho rằng hợp đồng vô hiệu do vợ không tham gia ký kết. Năm 2009, Viện trưởng Viện KSND tối cao tiếp tục kháng nghị giám đốc thẩm, đề nghị hủy cả hai bản án để xét xử lại vì hợp đồng chưa tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật.

Tuy nhiên, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao không chấp nhận kháng nghị. Cơ quan xét xử nhận định giao dịch đã được thực hiện trên thực tế: bà T. đã trả đủ 110 lượng vàng, nhận và sử dụng nhà đất ổn định; phía ông N. cũng thừa nhận việc nhận tiền và có hành vi phù hợp như chia vàng cho các con, lập giấy mượn lại nhà sau khi bán.

Trên thực tế, vợ chồng ông N. đã sử dụng một phần nhà đất đã chuyển nhượng cho bà T. trong quá trình xây dựng nhà trên diện tích còn lại. Do đó, có căn cứ xác định bà P. biết và đồng ý với việc chuyển nhượng. Việc bà P. khiếu nại sau đó là không có cơ sở.

Tòa cũng xác định phần diện tích 23,4m2 mặt đường nằm trong phạm vi chuyển nhượng theo thỏa thuận ban đầu.

Từ đó, Hội đồng Thẩm phán quyết định giữ nguyên bản án phúc thẩm, khẳng định quyền sở hữu hợp pháp của vợ chồng bà T. đối với phần đất tranh chấp.

(Tham khảo Quyết định giám đốc thẩm số 04/2010/QĐ-HĐTP ngày 3/3/2010 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao)