Cơ sở từ thiện không xây, đất bị sang tên

Theo trình bày của bà M. (ngụ TPHCM) tại toà án, bà có mối quan hệ quen biết với bà N.

Bà N. đã giới thiệu với bà M. về một dự án từ thiện nhằm xây dựng cơ sở nuôi dạy trẻ mồ côi, khuyết tật. Tin tưởng vào mục đích nhân đạo, bà M. đồng ý chuyển giao thửa đất hơn 1.000m2 tại vùng ven TPHCM để phục vụ dự án từ thiện.

Tuy nhiên, để thuận tiện cho việc thực hiện các thủ tục pháp lý, bà N. đề nghị bà M. ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sang tên cho mình.

Hợp đồng được công chứng vào tháng 12/2015 với giá trị hơn 522 triệu đồng, nhưng theo bà M., thực tế không có việc thanh toán. Sau khi ký kết, bà M. đã giao giấy chứng nhận cho bà N. nhưng chưa giao đất trên thực tế.

W-TPHCM   nguyễn huế 5.jpg
Ảnh minh họa: Nguyễn Huế

Một thời gian sau, bà M. phát hiện dự án từ thiện không được triển khai như cam kết. Khi yêu cầu trả lại giấy tờ đất, bà N. không thực hiện, dẫn đến tranh chấp. Bà M. khởi kiện, yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng năm 2015 và các giao dịch liên quan sau đó.

Đáng chú ý, năm 2019, bà N. tiếp tục chuyển nhượng thửa đất này cho ông C. Hợp đồng công chứng ghi giá 1,5 tỷ đồng nhưng giá trị giao dịch thực tế lên tới 7 tỷ đồng.

Ông C. cho biết đã thanh toán đầy đủ, bao gồm việc trả nợ ngân hàng để giải chấp tài sản, đồng thời tiến hành cải tạo, xây dựng trên đất với chi phí khoảng 3 tỷ đồng.

Ông khẳng định mình là bên nhận chuyển nhượng ngay tình, bởi tại thời điểm giao dịch, thửa đất có đầy đủ giấy tờ pháp lý, không bị ngăn chặn và không có tranh chấp được ghi nhận trên hệ thống. Việc tranh chấp giữa bà M. và bà N. không được ghi nhận tại thời điểm giao dịch nên không ảnh hưởng đến quyền lợi của ông.

Giao dịch hợp pháp, đòi đất bất thành

Tại phiên tòa sơ thẩm, TAND TPHCM đã bác toàn bộ yêu cầu của bà M. về việc hủy các hợp đồng chuyển nhượng, đồng thời chấp nhận yêu cầu độc lập của ông C., công nhận quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất tranh chấp.

Không đồng ý với phán quyết này, bà M. đã kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà cho rằng việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà N. xuất phát từ mục đích từ thiện nhưng không được thực hiện.

Theo bà M., hai bên không có đặt cọc, không thanh toán tiền; giá ghi trong hợp đồng chỉ mang tính hình thức và thấp hơn nhiều so với giá thị trường. Bà cũng cho rằng hợp đồng vô hiệu do sai chủ thể ký kết; đồng thời, các giao dịch sau đó, đặc biệt là việc chuyển nhượng cho ông C. nhằm che giấu giá trị giao dịch thực tế, có dấu hiệu trốn thuế và không bảo đảm điều kiện pháp lý.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TPHCM nhận định các hợp đồng chuyển nhượng đều được lập hợp pháp, có công chứng; các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định.

Đặc biệt, từ năm 2016, bà N. đã được cơ quan có thẩm quyền cập nhật tên trên giấy chứng nhận, trở thành người sử dụng đất hợp pháp. Việc bà N. chuyển nhượng đất cho ông C. vào năm 2019 cũng được xác định là đã hoàn tất việc thanh toán, bàn giao đất và không phát sinh tranh chấp trực tiếp giữa các bên.

Mặc dù giao dịch chuyển nhượng cho ông C. diễn ra trong thời điểm đang có tranh chấp, tòa cho rằng việc tuyên vô hiệu hợp đồng này là không cần thiết vì sẽ kéo dài vụ án, gây lãng phí, trong khi quyền sử dụng đất của bà N. đã được xác lập hợp pháp trước đó.

Từ các phân tích trên, Tòa phúc thẩm quyết định không chấp nhận kháng cáo của bà M., giữ nguyên bản án sơ thẩm, đồng thời công nhận quyền sử dụng đất thuộc về ông C.

(Tham khảo Bản án số 295/2026/DS-PT ngày 14/4/2026 của Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TPHCM)