Yếu tố hại tim mạch ít được để ý

Tại Đại hội Tim mạch Toàn quốc lần thứ 20 diễn ra từ 2-4/10, GS.TS.BS Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội Tim mạch học Việt Nam, trình bày những điểm chính trong “Đồng thuận của Hội Tim mạch học Việt Nam năm 2026 về Béo phì và Bệnh tim mạch”.

Bệnh tim mạch hiện là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong. Theo chuyên gia, bệnh lý tim mạch chiếm khoảng 33% tổng số ca tử vong tại Việt Nam. Trong số các trường hợp tử vong do bệnh tim mạch, khoảng 60% có liên quan trực tiếp đến bệnh lý động mạch vành.

Theo GS Hùng, có nhiều nhóm yếu tố nguy cơ, từ những yếu tố truyền thống đến các nguy cơ mới nổi. Những yếu tố quen thuộc gồm tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, lối sống ít vận động...

"Trong đó có một yếu tố nguy cơ hết sức quan trọng, đó chính là béo phì mà ít khi chúng ta để ý tới", GS Hùng nói.

Bên cạnh đó, y học ngày càng quan tâm đến những yếu tố nguy cơ mới nổi như stress, ô nhiễm không khí, các yếu tố liên quan đến tình trạng viêm... Đây là những yếu tố có thể tác động và làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

PGS Pham Manh hung.png
GS Hùng phát biểu tại đại hội. Ảnh: BTC.

Theo các chuyên gia, béo phì không đơn thuần là vấn đề ngoại hình hay hệ quả của việc “thiếu ý chí”. Mô mỡ dư thừa có thể tác động đến chuyển hóa, huyết áp, tình trạng viêm, chức năng nội mô và cấu trúc tim.

Thừa cân, béo phì vừa làm nặng thêm các yếu tố nguy cơ tim mạch như tăng huyết áp, đái tháo đường type 2, rối loạn lipid máu, bệnh thận mạn, gan nhiễm mỡ liên quan rối loạn chuyển hóa, ngưng thở khi ngủ vừa có thể trực tiếp góp phần gây bệnh tim mạch.

Các bệnh lý liên quan gồm bệnh tim mạch do xơ vữa, suy tim, rung nhĩ, huyết khối tĩnh mạch và một số bệnh van tim.

BMI (kg/m2) Phân loại
<18,5 Thiếu cân
18,5 – 22,9 Bình thường
23 – 24,9 Thừa cân
≥ 25
● 25 – 29,9
● ≥ 30
Béo phì
● Béo phì độ I
● Béo phì độ II

Béo phì làm tăng gánh nặng suy tim

Béo phì làm tăng nhu cầu chuyển hóa, khiến hệ tim mạch phải hoạt động nhiều hơn. Đồng thời, tình trạng này làm tăng nguy cơ bệnh động mạch vành do xơ vữa, từ đó có thể dẫn đến suy tim do thiếu máu cơ tim.

Ở người đã mắc suy tim, béo phì còn liên quan đến chất lượng cuộc sống kém hơn, nhiều triệu chứng hơn, khả năng gắng sức thấp hơn và nguy cơ nhập viện vì suy tim cao hơn.

Theo Hội Tim mạch học Việt Nam, một thay đổi quan trọng trong cách tiếp cận hiện nay là mục tiêu điều trị béo phì không còn đơn thuần là “giảm bao nhiêu kg”.

Điều trị cần hướng tới giảm lượng mỡ dư thừa, cải thiện chức năng cơ quan, kiểm soát bệnh đồng mắc, nâng cao khả năng vận động và chất lượng sống, đồng thời giảm nguy cơ biến cố tim mạch.

Về mức giảm cân, giảm ít nhất 5% trọng lượng cơ thể có thể cải thiện các yếu tố nguy cơ tim mạch. Khi giảm từ 10% trở lên, người bệnh có thể đạt lợi ích rõ hơn trong kiểm soát biến chứng và cải thiện kết cục tim mạch. Một số trường hợp có thể cần mục tiêu giảm từ 15% trở lên.

cấp cứu 114.png
Một ca cấp cứu nhồi máu cơ tim. Ảnh: BS Nhật Tuệ. 

Tuy nhiên, không có một mục tiêu giảm cân chung cho tất cả mọi người. Việc lựa chọn mục tiêu cần dựa trên mức độ béo phì, bệnh đồng mắc, tình trạng tim mạch và nguy cơ của từng người.

Can thiệp lối sống vẫn là nền tảng điều trị. Các liệu pháp incretin như thuốc đồng vận thụ thể GLP-1 hoặc thuốc tác động đồng thời lên GIP/GLP-1 đang mở ra thêm lựa chọn điều trị.

Việc phẫu thuật chuyển hóa - giảm cân có thể được cân nhắc ở người béo phì khi các phương pháp không phẫu thuật không đạt hiệu quả.

Các chuyên gia lưu ý, người bệnh không nên tự ý sử dụng thuốc giảm cân. Việc lựa chọn thuốc cần dựa trên tình trạng sức khỏe, bệnh tim mạch và các bệnh đồng mắc, đồng thời phải được bác sĩ chỉ định và theo dõi.