Biến đổi khí hậu và tác động của nó không còn là nguy cơ tiềm tàng mà đang hiện hữu ngày càng rõ nét trong đời sống kinh tế - xã hội của Việt Nam. Từ góc độ khí tượng, dễ dàng nhận thấy, cùng với sự nóng lên toàn cầu, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam cũng đang tăng lên, các mùa trong năm có xu hướng biến động mạnh hơn, những quy luật thời tiết trước đây vốn tương đối ổn định nay dường như không còn rõ ràng nữa. Trong khi đó, các hiện tượng cực đoan xuất hiện bất thường, ngày càng gia tăng cả tần suất và cường độ.

Thời tiết Việt Nam đang thay đổi như thế nào?

Biểu hiện rõ nhất của biến đổi khí hậu là sự gia tăng nhiệt độ. Những đợt nắng nóng có xu hướng xuất hiện sớm hơn, kéo dài hơn và các cột mốc nhiệt độ cao kỷ lục liên tục bị phá vỡ. Nhiệt độ tăng cao không chỉ ban ngày mà cả ban đêm, làm giảm khả năng phục hồi của cơ thể con người sau những giờ làm việc trong điều kiện nắng nóng. Tại các thành phố lớn, mật độ bê tông hóa cao, thiếu cây xanh, mặt nước và không gian thoáng làm gia tăng hiệu ứng đảo nhiệt đô thị, dẫn đến mức độ nóng càng trở nên nghiêm trọng hơn.

thien tai anh ha cuong 995.jpg
Năm 2025 ghi nhận lũ đặc biệt lớn, lũ lịch sử tại 20 con sông trên cả nước. Ảnh: Hà Cương

Sự gia tăng các sự kiện mưa cực đoan cũng đang trở thành một thách thức nổi bật. Trong nhiều trường hợp, tổng lượng mưa cả mùa có thể không đổi nhưng mưa lại tập trung vào một số đợt với cường suất rất lớn, đặc biệt là các trận mưa cực lớn, xảy ra trong thời gian ngắn, làm gia tăng nguy cơ ngập lụt đô thị, lũ lớn trên các lưu vực sông nhỏ, lũ quét, sạt lở đất ở các khu vực miền núi, nơi địa hình dốc.

Đối với bão, áp thấp nhiệt đới, số liệu thống kê cho thấy xu thế biến đổi không rõ ràng. Tuy nhiên, nguy cơ xuất hiện các cơn bão mạnh, thay đổi cường độ đột ngột, quỹ đạo di chuyển phức tạp có dấu hiệu gia tăng. Thiệt hại do bão cũng vì thế có thể gia tăng do tác động cơ học của gió mạnh, gió giật, mưa lớn, nước dâng ven bờ, độ cao sóng lớn.

Hạn hán và thiếu nước cũng có xu hướng trở nên phức tạp hơn. Nhiệt độ tăng làm bốc thoát hơi tăng, khiến đất đai và cây trồng mất nước nhanh, ngay cả khi lượng mưa không giảm quá nhiều. Hạn hán làm suy giảm dòng chảy. Thiếu nước dẫn đến khai thác nước ngầm quá mức.

Hạn hán kết hợp với nước biển dâng và thiếu hụt dòng chảy mùa khô làm tăng nguy cơ xâm nhập mặn. Sự xuất hiện của hạn hán kết hợp với nhiệt độ tăng cao, nắng nóng là một dạng rủi ro phức hợp, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh nguồn nước, sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nói chung.

Vì sao thời tiết ngày càng khó dự báo?

Biến đổi khí hậu đã dẫn đến sự nóng lên không đồng đều trên các vùng Trái đất, qua đó làm biến đổi các hệ thống hoàn lưu khí quyển và đại dương. Mặc dù các mô hình dự báo vẫn dựa trên hệ các phương trình mô tả các quá trình xảy ra trong hệ thống khí hậu, sự biến đổi của các hệ thống hoàn lưu đó đã làm gia tăng tính không dừng của các quá trình đó, làm khuếch đại các tín hiệu quy mô nhỏ mà những công thức thực nghiệm dựa trên khí hậu quá khứ trong các sơ đồ tham số hoá có thể không còn hoàn toàn phù hợp.

W-Xuan Ngoc   Ngap Lu Nha Tra.jpg
Mưa lũ gây ngập lụt ở Nha Trang năm 2025. Ảnh: Xuân Ngọc

Các hiện tượng được gọi là “bất thường” như mưa lớn trái mùa, nắng nóng xuất hiện sớm… thường là những hiện tượng xảy ra khác với thời gian, vị trí hoặc cường độ mà con người quen quan sát. Trong nhiều trường hợp, đây là kết quả của sự tương tác giữa nhiều hệ thống khí quyển ở các quy mô khác nhau, từ dao động toàn cầu như ENSO đến gió mùa, áp cao cận nhiệt đới, không khí lạnh, địa hình và điều kiện mặt biển khu vực.

Thách thức lớn nhất là dự báo các hiện tượng quy mô nhỏ, phát triển nhanh và có tính địa phương cao, như mưa cực đoan. Chỉ một sai lệch nhỏ về vị trí hoặc thời điểm hình thành mây đối lưu cũng có thể dẫn đến khác biệt lớn về lượng mưa thực tế. Bên cạnh đó, mạng lưới quan trắc chưa đủ dày, dữ liệu radar và vệ tinh chưa được khai thác đồng bộ, chất lượng dự báo của các mô hình số còn hạn chế ở địa hình phức tạp và khả năng tính toán với độ phân giải cao.

Thách thức còn lớn hơn nữa khi thời hạn dự báo vượt ra khỏi khuôn khổ 10 ngày. Tuy nhiên, không nên hiểu “khó dự báo” là dự báo không còn giá trị. Ngược lại, khoa học dự báo đang tiến bộ nhanh, nhưng cần chuyển từ tư duy dự báo tất định sang dự báo xác suất, dự báo tổ hợp.

Công tác dự báo, cảnh báo thiên tai cần đổi mới ra sao?

Trước hết, Việt Nam cần tiếp tục hiện đại hóa hệ thống mạng lưới quan trắc, đặc biệt ở các khu vực miền núi, ven biển, hải đảo và các lưu vực sông nhỏ. Dữ liệu từ trạm tự động, radar thời tiết, vệ tinh… cần được tích hợp và đồng bộ.

Thứ hai, cần nâng cao năng lực mô hình hóa độ phân giải cao, phát triển hệ thống dự báo tổ hợp và kết hợp mô hình động lực với trí tuệ nhân tạo. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ hiệu chỉnh sai số, nhận diện các hình thế nguy hiểm và khai thác dữ liệu lớn nhưng không nên xem đó là công cụ thay thế hoàn toàn mô hình vật lý. Hướng đi phù hợp là xây dựng các hệ thống dự báo lai (hybrid), kết hợp kiến thức động lực học khí quyển với khả năng học từ dữ liệu của trí tuệ nhân tạo.

Thứ ba, cần chuyển từ dự báo hiện tượng sang dự báo dựa trên tác động. Người sử dụng không chỉ cần biết lượng mưa có thể đạt bao nhiêu milimét mà cần biết khu vực nào có nguy cơ ngập, tuyến đường nào có thể bị chia cắt, hồ chứa nào cần điều tiết, nhóm dân cư nào cần sơ tán. Cảnh báo phải phù hợp với từng đối tượng và được truyền tải bằng ngôn ngữ rõ ràng, dễ hiểu, có hướng dẫn hành động cụ thể.

Cuối cùng, dù các mô hình có đạt được độ chính xác đến đâu cũng không thể thay thế vai trò của các dự báo viên. Muốn có được các bản tin dự báo tốt, chất lượng cao cần phải có đội ngũ dự báo viên giỏi, thành thạo và tâm huyết với nghề nghiệp. Điều đó gắn liền với công tác đào tạo nguồn nhân lực và cơ chế, chính sách thu hút, giữ chân các nhân tài.

Những giải pháp thích ứng cần được ưu tiên

Trên quy mô thời gian dài (hàng chục, thậm chí hàng trăm năm trong tương lai), biến đổi khí hậu sẽ diễn ra từ từ, khó có thể nhận biết được. Thích ứng với biến đổi khí hậu trong trường hợp này phải dựa trên các kịch bản biến đổi khí hậu.

W-mua lut ha noi 1.jpg.jpg
Hà Nội ngập sâu sau cơn mưa lớn trong năm 2025. Ảnh: N.K

Mọi quy hoạch phát triển cần được lồng ghép thông tin dự tính khí hậu tương lai. Việt Nam cần ưu tiên nâng cấp hạ tầng chống chịu, hệ thống tiêu thoát nước đô thị, hồ điều hòa, đê biển, công trình phòng chống sạt lở và các giải pháp dựa vào tự nhiên như phục hồi rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn và không gian trữ nước.

Trong nông nghiệp, cần điều chỉnh, dịch chuyển cơ cấu mùa vụ, sử dụng giống chịu hạn, chịu nóng và chịu mặn, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng nước. Quy hoạch đô thị phải tính đến các kịch bản nắng nóng, mưa cực đoan, ngập lụt và nước biển dâng trong suốt vòng đời công trình.

Tuy nhiên, để chủ động ứng phó với các hiện tượng cực đoan, vấn đề nâng cao chất lượng dự báo và kéo dài thời hạn dự báo lại trở nên cấp bách và quan trọng hơn. Có được các bản tin dự báo sớm với độ chính xác cao sẽ giúp giảm thiểu thiệt hại một cách đáng kể, và có thể xem đó là giải pháp làm tăng GDP hữu hiệu.

Người dân cần thay đổi nhận thức và hành động

Trong bối cảnh các hiện tượng cực đoan ngày càng gia tăng, biến động khó lường, người dân cần chuyển từ ứng phó bị động sang chủ động quản trị rủi ro. Mỗi gia đình nên biết khu vực mình sinh sống có nguy cơ gì, có thể sơ tán đến đâu, cần phòng bị những vật dụng thiết yếu nào và phải liên hệ với ai khi có tình huống khẩn cấp.

Người dân cũng cần theo dõi các bản tin dự báo, hiểu được bản chất của thông tin dự báo là luôn tồn tại tính bất định, không nên chờ đến khi nguy hiểm xảy ra mới hành động. Một cảnh báo có xác suất cao là cơ sở để chuẩn bị, nhưng đó không phải là lời khẳng định tuyệt đối.

Biến đổi khí hậu là thách thức lâu dài. Vì vậy, giảm thiểu thiệt hại do biến đổi khí hậu cần sự phối hợp giữa Nhà nước, giới khoa học, doanh nghiệp, chính quyền địa phương và từng người dân. Năng lực thích ứng của xã hội sẽ phụ thuộc không chỉ vào chất lượng công nghệ, mà còn vào mức độ sẵn sàng hành động trước khi thiên tai xảy ra.

GS.TS Phan Văn Tân là Nhà giáo Ưu tú, chuyên gia đầu ngành về khí tượng, thủy văn và biến đổi khí hậu tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội.