Trên bình diện thế giới, trật tự kinh tế toàn cầu liên tục bị xô lệch. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, căng thẳng thương mại kéo dài, xung đột quân sự bùng phát tại nhiều khu vực.

Chính sách thuế quan đối ứng của Hoa Kỳ tạo ra những cú sốc tức thời đối với dòng chảy thương mại và đầu tư toàn cầu. Nhiều nền kinh tế lớn buộc phải nới lỏng tiền tệ, tăng chi tiêu công để chống suy giảm, đồng thời dựng thêm các hàng rào bảo hộ nhằm bảo vệ sản xuất trong nước. Trong bối cảnh ấy, tăng trưởng toàn cầu chậm lại, nợ công tăng cao, lạm phát dai dẳng và rủi ro thị trường gia tăng.

Ở trong nước, những năm đầu nhiệm kỳ lại trùng với thời điểm khó khăn nhất. Năm 2021, đại dịch Covid-19 tác động trực diện đến nền kinh tế, làm đứt gãy chuỗi cung ứng, đình trệ sản xuất, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống người dân.

Ngay sau đó là chuỗi thiên tai bất thường, với tình trạng “bão chồng bão, lũ chồng lũ” trên diện rộng, gây thiệt hại lớn cho nhiều địa phương.

Cùng lúc, Việt Nam triển khai một cuộc cải cách không nhỏ về sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy và xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp – một việc khó, tốn thời gian, nguồn lực và đòi hỏi sự kiên trì trong tổ chức thực hiện.

w vo viet a50 312 (1).jpg
Trong một thế giới nhiều bất định, Việt Nam đã giữ được ổn định, phục hồi nhanh và từng bước nâng cao chất lượng tăng trưởng. Ảnh: Võ Việt

Chính trong bối cảnh nhiều sức ép đan xen như vậy, kết quả của giai đoạn 2021–2025 càng cho thấy rõ năng lực điều hành và sức chống chịu của nền kinh tế.

Ổn định vĩ mô tiếp tục được giữ vững. Lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm, tạo nền tảng cho phục hồi và tăng trưởng. Tăng trưởng GDP có xu hướng quý sau cao hơn quý trước.

Năm 2025, GDP ước tăng 8,02%, đạt mục tiêu đề ra và nằm trong nhóm cao của thế giới. Tính chung cả giai đoạn 2021–2025, tăng trưởng bình quân đạt 6,3%, cao hơn giai đoạn trước; riêng 4 năm 2022–2025, tăng trưởng bình quân đạt hơn 7% mỗi năm, vượt mục tiêu Quốc hội đề ra.

Đáng chú ý, ngay trong năm 2021 – năm chịu tác động nặng nề nhất của đại dịch – tăng trưởng vẫn đạt 2,55%, chạm đáy và rồi nền kinh tế bật lên mạnh mẽ trong các năm tiếp theo.

Quy mô nền kinh tế được mở rộng rõ rệt. Năm 2025, GDP ước đạt 514 tỷ USD, tăng 5 bậc, vươn lên vị trí 32 thế giới. GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, đưa Việt Nam chính thức bước vào nhóm thu nhập trung bình cao.

Thu nhập quốc dân bình quân đầu người đạt khoảng 4.760 USD, vượt ngưỡng trung bình cao theo phân loại của Ngân hàng Thế giới. Đây là dấu hiệu cho thấy năng lực tạo thu nhập của nền kinh tế đã được cải thiện thực chất.

Những kết quả ấy được cộng đồng quốc tế ghi nhận. IMF xếp Việt Nam trong nhóm 10 nền kinh tế tăng trưởng cao nhất thế giới. Standard Chartered dự báo Việt Nam thuộc nhóm 5 nước tăng trưởng nhanh nhất châu Á. Báo cáo B-Ready 2025 của Ngân hàng Thế giới đánh giá Việt Nam nằm trong nhóm 21 nền kinh tế có thành tích nổi bật.

Những đánh giá này cho thấy niềm tin quốc tế đối với triển vọng trung và dài hạn của Việt Nam tiếp tục được củng cố.

Kiểm soát lạm phát là một điểm tựa quan trọng của ổn định vĩ mô. CPI bình quân giai đoạn 2021–2025 luôn được giữ dưới 4%. Riêng năm 2025, CPI tăng 3,31%, thấp hơn mục tiêu đề ra.

Thương mại tiếp tục là một động lực lớn của tăng trưởng. Quy mô thương mại tăng mạnh, từ hơn 545 tỷ USD năm 2020 lên trên 930 tỷ USD năm 2025, đưa Việt Nam vào nhóm 20 quốc gia có quy mô thương mại lớn nhất thế giới. Năm 2025, xuất khẩu đạt 475 tỷ USD, nhập khẩu đạt 455 tỷ USD, xuất siêu khoảng 20 tỷ USD.

Lũy kế cả giai đoạn, xuất siêu đạt hơn 88 tỷ USD, gấp đôi giai đoạn trước. Việc duy trì xuất siêu nhiều năm liên tiếp cho thấy khả năng thích ứng của doanh nghiệp Việt Nam trước biến động thị trường, đồng thời phản ánh hiệu quả của chiến lược đa dạng hóa thị trường và tận dụng các hiệp định thương mại tự do.

Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 230 nền kinh tế trên thế giới.

Đầu tư tiếp tục đóng vai trò then chốt. Năm 2025, tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước đạt trên 4,15 triệu tỷ đồng, tương đương 32,3% GDP. Tính chung 5 năm, tổng vốn đầu tư đạt hơn 17,3 triệu tỷ đồng, tăng 44% so với giai đoạn trước, duy trì tỷ lệ bình quân khoảng 33% GDP – một mức huy động cao trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều bất định. Điều này cho thấy niềm tin của khu vực tư nhân và nhà đầu tư đối với triển vọng trung hạn của nền kinh tế vẫn được giữ vững.

Trong bối cảnh dòng vốn FDI toàn cầu bị thu hẹp, kết quả thu hút FDI của Việt Nam càng đáng chú ý. Giai đoạn 2021–2025, tổng vốn FDI đăng ký đạt 184,2 tỷ USD; riêng năm 2025, vốn FDI thực hiện đạt khoảng 27,6 tỷ USD, cao nhất trong nhiệm kỳ.

Việt Nam cũng nằm trong nhóm 15 quốc gia đang phát triển thu hút FDI lớn nhất thế giới – một thứ hạng phản ánh sức hấp dẫn đầu tư trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.

Du lịch quốc tế phục hồi mạnh mẽ là một điểm sáng khác. Từ mức gần như đóng băng năm 2021, lượng khách quốc tế tăng nhanh qua từng năm và đạt kỷ lục hơn 21 triệu lượt vào năm 2025. Kết quả này không chỉ phản ánh sức hấp dẫn của điểm đến Việt Nam, mà còn cho thấy hiệu quả của các chính sách mở cửa, phục hồi và quảng bá du lịch trong điều kiện mới.

Khu vực doanh nghiệp cũng ghi nhận những chuyển động tích cực. Sau khi Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân được ban hành, số doanh nghiệp thành lập mới tăng mạnh.

Năm 2025, cả nước có gần 300 nghìn doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường; tổng số doanh nghiệp đang hoạt động đạt khoảng 1,02 triệu.

Dù hơn 227 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong năm, phần lớn là tạm ngừng hoặc chờ tái cơ cấu, bức tranh chung vẫn cho thấy niềm tin thị trường đã được cải thiện rõ rệt trong nửa sau của nhiệm kỳ.

Về tài khóa, kết quả thu – chi ngân sách tạo ra một điểm tựa quan trọng cho ổn định vĩ mô. Năm 2025, thu ngân sách nhà nước đạt khoảng 2,65 triệu tỷ đồng, vượt xa dự toán; tỷ lệ động viên vào ngân sách đạt khoảng 20,7% GDP.

Lũy kế 5 năm, thu ngân sách đạt gần 9,88 triệu tỷ đồng, trong khi Nhà nước vẫn dành khoảng 1,1 triệu tỷ đồng để miễn, giảm, gia hạn thuế phí nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân.

Chi ngân sách được ưu tiên cho các nhiệm vụ chiến lược như khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; cho cải cách tổ chức bộ máy; cho phòng chống thiên tai, dịch bệnh và an sinh xã hội.

Nhờ đó, nợ công giảm từ hơn 44% GDP năm 2020 xuống còn khoảng 35–36% GDP năm 2025, bội chi ngân sách bình quân nhiệm kỳ cũng giảm so với giai đoạn trước.

Nhìn tổng thể, giai đoạn 2021–2025 không chỉ là 5 năm vượt khó, mà còn là 5 năm tạo nền móng cho một chu kỳ phát triển mới.

Trong một thế giới nhiều bất định, Việt Nam đã giữ được ổn định, phục hồi nhanh và từng bước nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Những thành tích ấy phản ánh bản lĩnh và sức chống chịu của nền kinh tế khi đi qua một giai đoạn thử thách hiếm có, đồng thời tạo nền tảng để bước vào 5 năm tiếp theo với những mục tiêu tăng trưởng hai con số cao hơn, tham vọng hơn.

Kỳ vọng bứt phá 2026Phóng viên hỏi tôi về từ khóa cho năm 2025 và kỳ vọng năm tới, không cần suy nghĩ quá nhiều, tôi tự tin trả lời là: “Ấn tượng”, “Nền tảng” và “Bứt phá”.