Trong hơn một thập kỷ qua, Việt Nam đã đi một chặng đường dài từ chính phủ điện tử - với trọng tâm là số hóa thủ tục hành chính - tới những bước đi đầu tiên của chính phủ số, nơi dữ liệu, định danh điện tử và nền tảng số trở thành “xương sống” của quản trị quốc gia. 

Nếu như chính phủ điện tử giúp người dân nộp hồ sơ trực tuyến, giảm tiếp xúc trực tiếp và rút ngắn thời gian xử lý, thì chính phủ số đòi hỏi một cấp độ cao hơn: Nhà nước vận hành dựa trên dữ liệu thời gian thực, liên thông giữa các bộ, ngành, địa phương; quyết định chính sách dựa trên phân tích dữ liệu; và cung cấp dịch vụ công theo hướng chủ động, cá thể hóa. 

Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, từ Cổng Dịch vụ công Quốc gia, hệ thống cơ sở dữ liệu dân cư đến ứng dụng định danh điện tử VNeID, nền móng của chính phủ số đã dần hình thành. Tuy nhiên, hành trình này không chỉ là câu chuyện công nghệ, mà là sự chuyển đổi toàn diện về thể chế, tư duy quản trị, bảo vệ dữ liệu cá nhân và xây dựng niềm tin số. Bài viết phân tích hành trình chuyển đổi này, những kết quả đạt được, ví dụ thực tế và các thách thức then chốt Việt Nam cần vượt qua để tiến tới một chính phủ số đúng nghĩa.

Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành chương trình hay chiến lược về Chuyển đổi số quốc gia. Thực hiện “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” do Thủ tướng phê duyệt ngày 03/6/2020, công cuộc chuyển đổi số quốc gia đã đạt được những kết quả rõ nét, đặc biệt là nhận thức về chuyển đổi số không ngừng được nâng cao.

Để thích ứng với tình hình mới và tận dụng cơ hội mà cuộc cách mạng công nghệ lần thứ tư mang lại, ngày 27/9/2019, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó nhấn mạnh yêu cầu cấp bách để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số. Trên cơ sở đó, ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến 2030.

Theo đó, Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới; đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân, phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, rộng khắp.

Chương trình Chuyển đổi số quốc gia nhằm mục tiêu kép là vừa phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực đi ra toàn cầu, với một số chỉ số cơ bản.

Trong “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 khẳng định: “Nhận thức đóng vai trò quyết định trong chuyển đổi số”.

Theo đó: “Chuyển đổi số trước tiên là chuyển đổi nhận thức. Một cơ quan, tổ chức có thể tiến hành chuyển đổi số ngay thông qua việc sử dụng nguồn lực, hệ thống kỹ thuật sẵn có để số hóa toàn bộ tài sản thông tin của mình, tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ, cơ cấu tổ chức và chuyển đổi các mối quan hệ từ môi trường truyền thống sang môi trường số. Mỗi cơ quan, tổ chức và cả quốc gia cần tận dụng tối đa cơ hội để phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, trong đó, việc xác định sớm lộ trình và đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương có ý nghĩa sống còn, là cơ hội để phát triển các ngành, lĩnh vực, địa phương và nâng cao thứ hạng quốc gia. Đi nhanh, đi trước giúp dễ thu hút nguồn lực. Nếu đi chậm, đi sau, khi chuyển đổi số đã trở thành xu hướng phổ biến thì nguồn lực trở nên khan hiếm, cơ hội sẽ ít đi, sẽ bỏ lỡ cơ hội phát triển”.

image001 (39).jpg
Bộ máy công quyền sẽ chuyển sang hoạt động trên môi trường số. Ảnh minh họa

Từ “đưa thủ tục lên mạng” đến thay đổi cách Nhà nước vận hành

Giai đoạn đầu của chính phủ điện tử tại Việt Nam gắn với mục tiêu rất cụ thể: cải cách thủ tục hành chính. Các bộ, ngành, địa phương tập trung xây dựng cổng thông tin điện tử, phần mềm một cửa, tiếp nhận hồ sơ trực tuyến và công bố công khai quy trình xử lý. Trọng tâm lúc này là “số hóa quy trình cũ”, giúp người dân và doanh nghiệp bớt đi lại, giảm giấy tờ, tăng tính minh bạch.

Việc hình thành Cổng Dịch vụ công Quốc gia được xem là bước tiến lớn, khi lần đầu tiên các thủ tục hành chính được tập hợp trên một nền tảng thống nhất, cho phép người dân tra cứu, nộp hồ sơ, thanh toán phí, lệ phí và theo dõi tiến độ xử lý. Ở giai đoạn này, thành công được đo bằng số lượng thủ tục được cung cấp trực tuyến, tỷ lệ hồ sơ xử lý online hay mức độ hài lòng của người dân.

Việc triển khai Cổng Dịch vụ công trực tuyến là điểm “một cửa số” giúp người dân, doanh nghiệp chỉ cần nhớ và truy cập một địa chỉ duy nhất dichvucong.gov.vn, không chỉ thuận tiện cho người dùng trong thực hiện dịch vụ công trực tuyến, mà còn giúp họ tránh bị lừa đảo qua các trang web giả mạo. Việc này cũng bảo đảm công khai, minh bạch, theo dõi, giám sát, đánh giá được toàn bộ quá trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính bằng dữ liệu theo thời gian thực trên môi trường điện tử, tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp của bộ, ngành, địa  phương.

Đáng chú ý, theo thống kê của Văn phòng Chính phủ, Cổng Dịch vụ công trực tuyến hiện đã công khai toàn bộ 6.358 thủ tục hành chính, trong đó có 4.788 thủ tục hành chính đã tích hợp, cung cấp dịch vụ công trực tuyến.

Tuy nhiên, chính phủ điện tử bộc lộ giới hạn khi các hệ thống vận hành rời rạc. Mỗi bộ, ngành, địa phương có một phần mềm, một cơ sở dữ liệu riêng, khó kết nối, khó chia sẻ. Nhà nước “có nhiều dữ liệu”, nhưng dữ liệu chưa thực sự trở thành tài sản dùng chung để phục vụ quản trị. Đó cũng là lý do vì sao chính phủ điện tử chưa đủ để giải quyết các bài toán lớn như dự báo chính sách, phân bổ nguồn lực hay phản ứng nhanh trước các cú sốc kinh tế - xã hội.

Chính phủ số: khi dữ liệu trở thành nền tảng của quản trị quốc gia

Chính phủ số đánh dấu sự chuyển dịch căn bản: từ “số hóa thủ tục” sang “số hóa quản trị”. Ở cấp độ này, dữ liệu không còn nằm yên trong các kho riêng lẻ mà được chuẩn hóa, kết nối và phân tích để phục vụ ra quyết định.

Điểm mấu chốt của chính phủ số là định danh điện tử và quản trị dữ liệu. Khi mỗi công dân, doanh nghiệp có một danh tính số thống nhất, Nhà nước có thể cung cấp dịch vụ xuyên suốt, không cần yêu cầu người dân khai báo lại thông tin đã có. Ứng dụng VNeID là ví dụ điển hình cho bước chuyển này. Thay vì mang theo nhiều loại giấy tờ, người dân có thể xác thực danh tính, thực hiện thủ tục hành chính, thậm chí tiến tới ký số và giao dịch điện tử hoàn toàn trên môi trường số.

Không chỉ phục vụ người dân, chính phủ số còn thay đổi cách các cơ quan nhà nước vận hành. Khi dữ liệu dân cư được kết nối với thuế, bảo hiểm, y tế, giáo dục…, cơ quan quản lý có thể nhìn thấy “bức tranh toàn cảnh” thay vì từng mảnh ghép rời rạc. Đây chính là nền tảng để xây dựng quản trị dựa trên dữ liệu - một đặc trưng cốt lõi của chính phủ số.

Những ví dụ thực tế cho thấy chính phủ số đã “chạm ngưỡng”

Trong thực tiễn, nhiều lĩnh vực tại Việt Nam đã vượt qua giai đoạn chính phủ điện tử và tiệm cận mô hình chính phủ số.

Ở lĩnh vực hành chính công, việc tích hợp dịch vụ công trực tuyến với thanh toán điện tử, định danh điện tử giúp giảm đáng kể thời gian xử lý hồ sơ. Người dân không chỉ “nộp hồ sơ online” mà còn có thể hoàn tất toàn bộ quy trình mà không cần tiếp xúc trực tiếp với cơ quan nhà nước.

Trong y tế, dữ liệu khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế và định danh công dân đang từng bước được kết nối. Điều này mở ra khả năng quản lý hồ sơ sức khỏe điện tử, giảm trùng lặp xét nghiệm và hỗ trợ bác sĩ đưa ra quyết định điều trị chính xác hơn. Đây là minh chứng rõ ràng cho việc dữ liệu, khi được kết nối, sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ công.

Ở lĩnh vực thuế, kê khai và nộp thuế điện tử đã trở thành phổ biến. Khi dữ liệu doanh nghiệp, hóa đơn điện tử và giao dịch tài chính được liên thông, cơ quan thuế có thể phân tích rủi ro, giảm gian lận và tăng hiệu quả quản lý, thay vì chỉ xử lý hồ sơ một cách thủ công như trước.

Những ví dụ này cho thấy, chính phủ số không còn là khái niệm xa vời, mà đã bắt đầu hiện diện trong đời sống quản lý - dù mức độ còn khác nhau giữa các ngành, địa phương.

Nghị quyết 57 và yêu cầu đổi mới mô hình quản trị nhà nước

Nghị quyết 57-NQ/TW ra đời trong bối cảnh mô hình tăng trưởng cũ bộc lộ nhiều giới hạn, trong khi khoa học, công nghệ và dữ liệu nổi lên như động lực then chốt của phát triển. Với khu vực công, tinh thần của nghị quyết thể hiện rõ yêu cầu chuyển từ tư duy “quản lý” sang “kiến tạo và dẫn dắt”.

Điều này đồng nghĩa với việc Nhà nước không chỉ cải tiến quy trình hiện có, mà phải thay đổi cách vận hành. Chuyển đổi số khu vực công vì vậy không dừng ở việc đưa hồ sơ lên mạng hay triển khai phần mềm một cửa, mà hướng tới xây dựng chính phủ số - nơi dữ liệu trở thành nền tảng cho quản trị và hoạch định chính sách. Sau Nghị quyết 57, chính phủ số đã được đặt vào vị trí trung tâm của cải cách hành chính và hiện đại hóa Nhà nước.

Chính phủ số, theo tinh thần Nghị quyết 57, là bước chuyển về chất. Ở đó, dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và phân tích để phục vụ quản trị. Các quyết định chính sách không chỉ dựa trên báo cáo định kỳ, mà được hỗ trợ bởi dữ liệu thời gian thực. Dịch vụ công không chỉ phản ứng theo yêu cầu của người dân, mà từng bước chuyển sang cung cấp chủ động, dựa trên nhu cầu đã được dự báo.

Một trong những chuyển động rõ nét nhất sau Nghị quyết 57 là việc xây dựng và khai thác các nền tảng dữ liệu quốc gia. Cơ sở dữ liệu dân cư, đất đai, bảo hiểm, thuế, y tế… đang từng bước được hình thành và kết nối.

Cùng với đó, định danh và xác thực điện tử tạo ra “chìa khóa” để liên thông dịch vụ công. Ứng dụng VNeID cho phép công dân xác thực danh tính khi thực hiện thủ tục hành chính, giảm mạnh giấy tờ và tình trạng khai báo lặp lại. Đây là điều kiện quan trọng để chính phủ số vận hành trơn tru, lấy người dân làm trung tâm.

Tuy nhiên, Nghị quyết 57 cũng đặt ra yêu cầu song hành: phát triển dữ liệu phải đi đôi với bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Chính phủ số chỉ có thể bền vững khi niềm tin số của người dân được bảo đảm, dữ liệu được sử dụng đúng mục đích và đúng thẩm quyền.

Dù đã có nền móng, quá trình xây dựng chính phủ số sau Nghị quyết 57 vẫn đối mặt nhiều thách thức.

Thứ nhất là thể chế dữ liệu. Cơ chế chia sẻ, khai thác dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước còn thiếu đồng bộ. Nếu không tháo gỡ rào cản này, dữ liệu khó trở thành nguồn lực chung cho quản trị.

Thứ hai là an toàn thông tin và an ninh mạng. Khi dữ liệu ngày càng tập trung và được khai thác sâu, rủi ro tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu gia tăng, đòi hỏi năng lực bảo vệ tương xứng.

Thứ ba là con người. Chính phủ số cần đội ngũ cán bộ có tư duy dữ liệu, biết sử dụng công nghệ để ra quyết định. Nếu không đầu tư cho nguồn nhân lực, chuyển đổi số khu vực công sẽ khó đi vào chiều sâu.

Sau Nghị quyết 57, chính phủ số không chỉ là mục tiêu công nghệ, mà là phép thử cho năng lực cải cách và thực thi chính sách. Nếu làm tốt, chính phủ số sẽ trở thành trụ cột của Nhà nước kiến tạo phát triển; nếu làm chưa tới, nghị quyết khó tạo ra tác động đột phá như kỳ vọng.

Chính phủ số không chỉ nhằm mục tiêu “phục vụ nhanh hơn”, mà còn hướng tới vai trò kiến tạo, dẫn dắt phát triển. Khi dữ liệu trở thành nguồn lực chiến lược, Nhà nước có thể dự báo xu hướng, thiết kế chính sách linh hoạt và phản ứng kịp thời trước biến động.

Hành trình từ chính phủ điện tử đến chính phủ số vì thế không đơn thuần là nâng cấp công nghệ, mà là một cuộc cải cách quản trị sâu sắc. Việt Nam đã đặt nền móng quan trọng với các nền tảng số quốc gia, định danh điện tử và quyết tâm chính trị rõ ràng. Vấn đề còn lại là tháo gỡ “nút thắt” thể chế, bảo đảm an toàn dữ liệu và đầu tư cho con người.

Khi những yếu tố này hội tụ, chính phủ số sẽ không chỉ là đích đến về công nghệ, mà trở thành động lực then chốt cho phát triển kinh tế – xã hội trong kỷ nguyên dữ liệu.

Thái Khang