Chồng nói bỏ tiền mua đất, người thân của vợ đứng tên

Theo trình bày của ông E. (quốc tịch Pháp, ngụ tại tỉnh Bình Thuận cũ, nay là tỉnh Lâm Đồng), ông và bà C. kết hôn vào tháng 8/2013 tại Bình Định. Đến năm 2016, ông E. yêu cầu ly hôn. Hai bên thống nhất chấm dứt quan hệ hôn nhân, không có tranh chấp về con chung nhưng phát sinh tranh chấp về tài sản.

Ông E. cho rằng vợ chồng có khối tài sản gồm gần 1.900m2 đất và một căn nhà tại tỉnh Bình Thuận, trong đó có những tài sản được hình thành trước thời điểm đăng ký kết hôn nhưng ông là người bỏ tiền mua.

Theo ông E., do là người nước ngoài và không đủ điều kiện đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Việt Nam tại thời điểm đó, ông để vợ và người thân của vợ đứng tên trên giấy tờ.

W-Phan Thiet (39).jpg
Các thửa đất tranh chấp xuất phát từ nhiều giao dịch, trong đó người chồng cho rằng mình đã bỏ tiền mua nhưng giấy tờ đứng tên vợ và người thân. Ảnh minh họa: Hoàng Hà

Ngược lại, bà C. cho rằng vợ chồng không có tài sản chung. Các thửa đất là tài sản riêng của bà hoặc của anh, chị ruột; một số tài sản được hình thành từ tiền riêng của bà trước khi kết hôn. Anh, chị của bà C. là bà B. và ông D. cũng cho rằng họ mới là người thực sự mua một số thửa đất và chỉ nhờ bà C. hoặc đứng tên giúp trong quá trình giao dịch.

Đáng chú ý, lời khai của những người chuyển nhượng đất lại thể hiện khác. Bà N. cho biết thửa đất 600m2 được chuyển nhượng cho vợ chồng ông E. và bà C., trong đó ông E. trực tiếp giao tiền khi làm thủ tục công chứng.

Tương tự, ông P. xác nhận đã chuyển nhượng gần 1.300m2 đất cho ông E. và bà C. Việc hợp đồng sau đó chỉ đứng tên bà C. và người thân được giải thích do ông E. là người nước ngoài, không được đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Việt Nam.

Đất đứng tên người thân, vẫn có cơ sở xác định là tài sản chung

Xét xử sơ thẩm, TAND tỉnh Bình Thuận (nay là TAND tỉnh Lâm Đồng) xác định gần 1.900m2 đất cùng căn nhà là tài sản chung của ông E. và bà C. Tổng giá trị tài sản hơn 3,1 tỷ đồng, mỗi người được chia phần giá trị tương đương hơn 1,55 tỷ đồng. Bà C. được giao quản lý, sử dụng toàn bộ nhà đất và có nghĩa vụ thanh toán phần giá trị tương ứng cho ông E.

Tuy nhiên, cấp phúc thẩm xác định chỉ một phần tài sản là tài sản chung và cho rằng bà C. có công sức đóng góp lớn hơn. Theo đó, bà C. được hưởng 70% giá trị quyền sử dụng đất và 80% giá trị căn nhà; ông E. được hưởng lần lượt 30% và 20%. Phần giá trị ông E. được nhận tổng cộng khoảng 427 triệu đồng.

Không đồng ý, ông E. đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm. Năm 2021, Chánh án TAND tối cao kháng nghị, đề nghị hủy các bản án về phần tài sản để xét xử lại.

Tại phiên giám đốc thẩm, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao nhận định một số kết luận của cấp phúc thẩm chưa có căn cứ. Với thửa đất được cấp giấy chứng nhận đứng tên bà C. trước ngày đăng ký kết hôn, Tòa cho rằng vẫn có cơ sở xác định đây là tài sản chung.

Dù hợp đồng được ký vào tháng 7/2013, trước thời điểm đăng ký kết hôn (tháng 8/2013), nhưng hai người đã làm thủ tục đăng ký kết hôn từ tháng 4/2013 và tổ chức lễ cưới vào tháng 7/2013. Người chuyển nhượng cũng xác nhận đất được bán cho cả ông E. và bà C.

Đối với gần 1.300m2 đất đứng tên bà C. và người thân, Hội đồng Thẩm phán cho rằng có cơ sở để xem xét đây là tài sản chung của vợ chồng. Người bán xác nhận đối tượng nhận chuyển nhượng thực tế là ông E. và bà C. Trong khi đó, người thân của bà C. không trực tiếp quản lý, sử dụng đất; căn nhà được xây dựng trên đất do vợ chồng quản lý và chi phí xây dựng do hai người chi trả.

Tuy nhiên, Hội đồng Thẩm phán cũng chỉ ra rằng cấp sơ thẩm chưa xem xét tính hợp pháp của hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên người thân của bà C., nên chưa giải quyết triệt để vụ án. Việc cấp phúc thẩm chia công sức đóng góp đối với đất theo tỷ lệ 70%-30% cũng chưa phù hợp với nguyên tắc chia tài sản chung. Ngoài ra, việc không xem xét yêu cầu định giá lại tài sản của ông E. có thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Từ đó, Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao chấp nhận kháng nghị của Chánh án TAND tối cao, hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm về phần xác định, phân chia tài sản chung, đồng thời giao hồ sơ cho TAND tỉnh Bình Thuận (nay là TAND tỉnh Lâm Đồng) xét xử sơ thẩm lại.

(Tham khảo Quyết định giám đốc thẩm số 02/2022/HNGĐ-GĐT ngày 13/1/2022 của TAND tối cao)