Bên mua trả đủ tiền, giử mẹ ở nhờ rồi không chịu bàn giao nhà

Theo trình bày của bà H. (ngụ TP Hải Phòng), năm 2024, bà thỏa thuận nhận chuyển nhượng nhà đất của ông Q. với giá 900 triệu đồng. Bà H. cho biết đã đặt cọc 150 triệu đồng, sau đó thanh toán 750 triệu đồng còn lại trong tháng 5/2024.

Trong tháng 5/2024, hai bên đã lập văn bản cam kết, theo đó ông Q. đề nghị bà H. cho mẹ mình là cụ T. tiếp tục ở lại nhà đất đến tháng 7/2024 để có thời gian chuyển đi nơi khác.

Đến tháng 6/2024, hai bên ký hợp đồng chuyển nhượng và sau đó, bà H. được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo bà H., sau khi hết thời hạn cam kết, bà đến nhận nhà đất vào tháng 10/2024 thì được biết ông Q. đã chuyển vào miền Nam sinh sống, còn cụ T. vẫn ở lại.

Sau nhiều lần yêu cầu nhưng không được cụ T. bàn giao nhà đất, bà H. khởi kiện, đề nghị tòa buộc cụ trả lại tài sản.

W-Hai Duong (57).jpg
Vụ tranh chấp nhà đất phát sinh khi cụ bà không bàn giao nhà cho chủ mới sau khi hết thời hạn ở nhờ theo cam kết.
Ảnh minh họa: Hoàng Hà

Ở chiều ngược lại, cụ T. cho biết đã sinh sống tại nhà đất trên từ khoảng năm 2000 cùng con trai. Cụ từng hỗ trợ người con 4 triệu đồng khi mua nhà đất nhưng không lập giấy tờ.

Cụ T. cho biết không tranh chấp việc con trai đứng tên quyền sử dụng đất, nhưng mong muốn được tiếp tục sống tại căn nhà vì không còn nơi ở nào khác. Cụ cũng cho biết mình là mẹ liệt sĩ, có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên.

Xét xử sơ thẩm vào tháng 9/2025, TAND Khu vực 9 - Hải Phòng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H., buộc cụ T. trả lại nhà đất. Tuy nhiên, Tòa cho phép cụ lưu cư trong 3 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Hết thời hạn này, cụ phải di chuyển đồ đạc và bàn giao nhà đất.

Không chứng minh được quyền sở hữu căn nhà, cụ bà phải trả lại nhà đất

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, cụ T. kháng cáo, đề nghị hủy bản án vì cho rằng Tòa án chưa đưa ông Q. vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đồng thời chưa xem xét giá trị căn nhà do cụ đầu tư xây dựng trên đất.

Tại phiên phúc thẩm, TAND TP Hải Phòng nhận định nhà đất tranh chấp đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người chủ sở hữu vào năm 2019. Sau đó, người này chuyển nhượng nhà đất cho ông Q. vào năm 2020 và ông Q. tiếp tục chuyển nhượng cho bà H. vào năm 2024.

Theo nhận định của tòa, quá trình chuyển nhượng được thực hiện đúng quy định pháp luật và không phát sinh tranh chấp giữa các bên. Bà H. được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào tháng 6/2024.

Hội đồng xét xử xác định văn bản cam kết tháng 5/2024 thể hiện việc ông Q. đề nghị bà H. cho gia đình tiếp tục ở nhờ đến tháng 7/2024 để bàn giao nhà đất. Dù hợp đồng chuyển nhượng không ghi rõ căn nhà trên đất, nội dung cam kết cùng các tài liệu trong hồ sơ là căn cứ xác định việc chuyển nhượng bao gồm cả nhà ở gắn liền với đất.

Đối với lời trình bày của cụ T. cho rằng căn nhà do mình xây dựng từ năm 1999, Tòa nhận định cụ không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Lời khai của cụ về thời điểm sinh sống tại địa phương cũng không phù hợp với lập luận này. Vì vậy, Tòa phúc thẩm cho rằng không có căn cứ xác định căn nhà thuộc quyền sở hữu hợp pháp của cụ T.

Đối với kháng cáo về việc không đưa ông Q. vào tham gia tố tụng, hội đồng xét xử cho rằng giao dịch chuyển nhượng giữa ông Q. và bà H. không phát sinh tranh chấp. Trên cơ sở hồ sơ vụ án, tòa xác định việc không đưa ông Q. tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp.

Từ những phân tích trên, TTAND TP Hải Phòng xác định bà H. có quyền đối với nhà đất theo giao dịch chuyển nhượng và hồ sơ pháp lý được xem xét; trong khi đó, cụ T. không chứng minh được quyền sở hữu hợp pháp đối với căn nhà.

Tòa nhận định bản án sơ thẩm buộc cụ T. bàn giao nhà đất, đồng thời cho phép cụ lưu cư trong 3 tháng là có căn cứ, hợp tình, hợp lý. Do đó, Tòa phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của cụ T. và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

(Tham khảo Bản án số 15/2026/DS-PT ngày 15/1/2026 của TAND TP Hải Phòng)