Bên nói cho thuê, bên khẳng định đã mua đất
Theo trình bày của ông C. (ngụ tỉnh Ninh Thuận cũ, nay là tỉnh Khánh Hòa), năm 1992, hộ gia đình do ông đại diện được hợp tác xã tại Ninh Thuận cấp thửa đất diện tích 838m2.
Sau đó, ông cho con gái là bà S. mượn đất canh tác. Bà S. tiếp tục cho bà T. thuê trong vòng 15 năm với giá 2,5 chỉ vàng y, nhưng hai bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không lập văn bản.
Năm 2006, ông C. yêu cầu bà T. trả đất nhưng bà xin được tiếp tục sử dụng vì cho rằng đất ruộng trũng, sản xuất thua lỗ. Ông C. đồng ý cho bà sử dụng thêm một thời gian.
Đến tháng 8/2020, khi bà T. đổ đất nhằm nâng nền để xây nhà, gia đình ông C. báo chính quyền địa phương và việc san lấp bị ngăn chặn. Sau nhiều lần yêu cầu trả đất không được, ông C. khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc bà T. trả lại đất.

Ngược lại, bà T. bác bỏ việc thuê đất và cho rằng năm 1993 đã nhận chuyển nhượng đất từ bà S. bằng “Giấy sang nhượng đất KTGĐ”, với tổng diện tích khoảng 800m2, giá 2,5 chỉ vàng y.
Vợ chồng bà T. cho biết đã sử dụng đất liên tục từ năm 1993, chủ yếu để trồng lúa, và đề nghị Tòa án công nhận giao dịch này.
Tại phiên sơ thẩm, TAND cấp huyện của tỉnh Ninh Thuận cũ chấp nhận yêu cầu của ông C., tuyên giao dịch theo “Giấy sang nhượng đất KTGĐ” năm 1993 vô hiệu và buộc vợ chồng bà T. trả lại 838m2 đất.
Con gái ông C., tức bà S., có nghĩa vụ hoàn trả 2,5 chỉ vàng y, cùng hơn 20,4 triệu đồng chi phí san lấp và 13,8 triệu đồng tiền bồi thường cho vợ chồng bà T.
Giấy sang nhượng viết tay không được công nhận
Không đồng ý với phán quyết trên, vợ chồng bà T. kháng cáo, đề nghị công nhận giấy sang nhượng năm 1993 và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông C.
Tại phiên phúc thẩm, TAND tỉnh Ninh Thuận (nay là TAND tỉnh Khánh Hòa) nhận định giao dịch năm 1993 không đủ điều kiện để được công nhận do vi phạm cả về nội dung và hình thức.
Theo đó, giấy sang nhượng được lập bằng giấy viết tay, không công chứng, chứng thực, chưa đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Đặc biệt, tại thời điểm giao dịch, pháp luật về đất đai cấm chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Điều 5 Luật Đất đai năm 1987.
Về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Tòa phúc thẩm xác định hộ ông C. được cấp lần đầu năm 2002 và cấp đổi năm 2017. Việc cấp giấy được xác định là đúng đối tượng, đúng nguồn gốc đất được giao cho hộ gia đình ông C. và hợp pháp.
Tuy nhiên, Tòa phúc thẩm cho rằng cấp sơ thẩm chưa bảo đảm quyền lợi của bên nhận chuyển nhượng khi áp dụng giá đất theo khung giá Nhà nước để giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu.
Sau khi xác định giá chuyển nhượng thực tế tại địa phương, Tòa xác định bên chuyển nhượng chịu 60% lỗi, bên nhận chuyển nhượng chịu 40%, do bà T. đã sử dụng, giữ gìn và tôn tạo đất hơn 30 năm.
Khác với phán quyết sơ thẩm, Tòa phúc thẩm xác định vợ chồng bà T. phải trả lại 838m2 đất cho hộ ông C. Bà S. phải hoàn trả và bồi thường tổng cộng hơn 199 triệu đồng; vợ chồng ông C. phải hoàn trả và bồi thường hơn 85,6 triệu đồng, trong đó có chi phí san lấp.
(Tham khảo Bản án số 69/2024/DS-PT ngày 17/9/2024 của TAND tỉnh Ninh Thuận, nay là TAND tỉnh Khánh Hòa)