
Tuần Việt Nam trao đổi với ông Nguyễn Văn Phúc, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội xung quanh trọng tâm “đột phá thể chế” được đặt ra ở Đại hội lần thứ XIV.
Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục đặt “đột phá thể chế” là một trong ba đột phá chiến lược. Ông nhận xét gì về cách tiếp cận này, vốn đã được nêu ra từ Đại hội X?
Ông Nguyễn Văn Phúc: Việc Đại hội XIV của Đảng không những tiếp tục xác định đột phá thể chế là một trong ba đột phá chiến lược, cùng với đột phá về hạ tầng và nguồn nhân lực, mà còn đặt lên vị trí số một, không phải là sự lặp lại mang tính hình thức, mà phản ánh nhận thức ngày càng đầy đủ và chín muồi hơn về thể chế và vai trò quyết định của thể chế đối với sự phát triển của đất nước ta.
Đột phá thể chế đã được Đảng xác định là một trong ba đột phá chiến lược qua nhiều kỳ Đại hội, bắt đầu từ Đại hội X. Tuy nhiên, bước vào kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu đặt ra cao hơn rất nhiều.
Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, nhưng cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng nước ta mới chỉ đạt mức thu nhập trung bình cao (GDP bình quân đầu người khoảng 5.000 USD), nhưng chưa thật sự có chất lượng và chưa bền vững; nguy cơ tụt hậu và rơi vào bẫy thu nhập trung bình vẫn hiện hữu, và chúng ta còn cách khá xa các nước có mức thu nhập cao.

Điểm khác biệt lần này là Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh tới “thể chế phát triển”. Đây là loại thể chế không chỉ đặt ra khuôn khổ, ràng buộc, kiểm soát để quản lý, mà còn có vai trò kiến tạo, thúc đẩy, mở rộng không gian và khơi thông các nguồn lực phát triển, mang tính bao trùm, dung hợp như đã nêu.
Nếu không có sự đột phá mạnh mẽ và táo bạo, mang tính cách mạng để chuyển từ thể chế nặng về quản lý sang thể chế kiến tạo phát triển, thì khó có thể xác lập được mô hình tăng trưởng mới, đổi mới cơ cấu và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, lấy khoa học – công nghệ và chuyển đổi số làm động lực chính.
Qua đó, mới có thể đạt được tăng trưởng cao hơn nhưng có chất lượng, phát triển nhanh hơn và bền vững hơn, hướng tới các mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 như Đại hội XIV của Đảng đã đề ra.
Chính vì vậy, việc đặt đột phá thể chế ở vị trí số một là sự lựa chọn có cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc, đồng thời thể hiện quyết tâm chính trị rất cao và rất rõ ràng của Đảng ta.
Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV tiếp tục khẳng định: “Hệ thống thể chế phát triển chưa đồng bộ, trở thành "điểm nghẽn của điểm nghẽn". Các nhà lãnh đạo của Đảng cũng nhiều lần khẳng định, yếu kém về thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Vì sao qua nhiều kỳ đại hội, vấn đề cải cách thể chế lại khó đến vậy, thưa ông?
Đúng vậy. Tổng Bí thư Tô Lâm đã từng phát biểu như vậy. Đây là nhận định hoàn toàn chính xác, chỉ ra đúng nguyên nhân gốc rễ của vấn đề. Nhà nước và xã hội đặt ra thể chế, nhưng chính Nhà nước và xã hội cũng phải vận hành trong khuôn khổ và chịu sự ràng buộc của thể chế, mà nền tảng và cốt lõi là hệ thống pháp luật và cơ chế thực thi pháp luật. Đột phá về hạ tầng và nguồn nhân lực, phát triển và ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số… cũng đều phụ thuộc vào đột phá về thể chế. Nếu nghẽn thể chế thì sẽ nghẽn tất cả.
Điểm nghẽn trước hết nằm ở khâu xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật còn thiếu đồng bộ, chất lượng chưa cao, thể hiện ở tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu nhất quán, thiếu ổn định, chưa phù hợp với các quy luật khách quan. Tiếp theo là điểm nghẽn ở cơ chế thực thi pháp luật, bao gồm cả cơ chế tổ chức thực thi và cơ chế tự thực thi.
Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không còn nằm chủ yếu ở các văn bản pháp luật, mà nằm ở khâu tổ chức thực thi pháp luật. Những năm gần đây, hệ thống pháp luật của chúng ta đã được hoàn thiện rất nhanh và khá đầy đủ, toàn diện hơn; chất lượng được coi trọng hơn. Đặc biệt trong năm 2025, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành số lượng rất lớn luật và văn bản pháp luật để tháo gỡ các vướng mắc về mặt quy định.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn tình trạng “né tránh, không dám quyết, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm”, tình trạng “dân cần nhưng quan chưa vội”, tình trạng “có chi mới ký cho”.
Điều này phản ánh những hạn chế, bất cập và yếu kém trong cơ chế tổ chức thực thi pháp luật, liên quan đến trình độ, năng lực, thái độ, lề lối làm việc, cách thức phối hợp, văn hóa, đạo đức công vụ, tinh thần trách nhiệm, điều kiện thực thi của bộ máy và đội ngũ công chức. Bên cạnh đó, chi phí tuân thủ pháp luật, nhất là chi phí phi chính thức, vẫn còn cao.
Bởi vậy, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 66 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Trên cơ sở đó, Quốc hội đã thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới, nhằm kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn về pháp luật.
Năm 2025, đột phá thể chế diễn ra rất nhanh, một số lượng kỷ lục luật, nghị quyết,... đã được ban hành. Câu hỏi đặt ra là, làm sao để chất lượng phải song hành với tốc độ xây dựng luật pháp?
Đúng là về đột phá thể chế, trong năm 2025, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, gắn với công tác xây dựng và ban hành pháp luật, đã diễn ra một cách quyết liệt và thần tốc.
Chỉ trong vòng vài tháng, thay vì phải mất rất nhiều năm, chúng ta đã hoàn thành việc sắp xếp lại các cơ quan, tổ chức ở Trung ương; sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp xã; giải thể toàn bộ đơn vị hành chính cấp huyện; tổ chức và đưa vào vận hành ngay chính quyền địa phương hai cấp là cấp tỉnh và cấp xã.

Cũng trong vài tháng, Quốc hội ban hành 2 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật vừa mới được ban hành trong cùng năm, hay gấp rút sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013, kịp thời ban hành 85 luật và 22 nghị quyết có tính quy phạm pháp luật trong tổng số hơn 50 nghị quyết.
Riêng tại Kỳ họp thứ 10 cuối năm 2025, Quốc hội đã ban hành 51 luật và 8 nghị quyết có tính quy phạm pháp luật.
Đồng thời, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành hàng trăm văn bản quy phạm pháp luật nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc do quy định pháp luật và tăng cường phân cấp, phân quyền theo mô hình tổ chức bộ máy mới. Tất cả các văn bản này đều được tổ chức triển khai, thực thi ngay trong đời sống.
Việc đột phá thể chế diễn ra nhanh và thần tốc như vậy là để đáp ứng kịp thời yêu cầu của cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy như đã nêu.
Cho đến nay, theo các báo cáo của các cơ quan có thẩm quyền, kết quả về cơ bản được đánh giá là tốt. Tuy nhiên, cũng không thể tránh khỏi những khó khăn.
Do đó, trong quá trình thực hiện, các cấp có thẩm quyền cần cầu thị, lắng nghe ý kiến của các cơ quan, tổ chức, các chuyên gia, nhà khoa học, và đặc biệt là các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của các văn bản pháp luật vừa được ban hành gấp rút trong thời gian qua, để kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn. Đây cũng chính là quan điểm về xây dựng và hoàn thiện thể chế phát triển của Đảng ta.
Để xây dựng thể chế nhanh mà vẫn bảo đảm chất lượng, có nhiều việc cần phải làm. Ở đây, tôi chỉ xin lưu ý một số vấn đề đối với công tác xây dựng và thi hành pháp luật.
Một là, cần coi trọng hoạt động phân tích chính sách và đánh giá tác động của chính sách, bảo đảm pháp luật phù hợp với các quy luật khách quan vận hành trong điều kiện cụ thể của nước ta. Nội dung này hiện chưa thật sự được đầu tư nghiên cứu một cách thích đáng và đúng phương pháp. Quy định về cơ chế và phương pháp định giá đất thời gian vừa qua là một ví dụ điển hình.
Hai là, cần có bộ máy và đội ngũ con người có kiến thức, phương pháp, kỹ thuật và kỹ năng soạn thảo văn bản pháp luật, cũng như xây dựng cơ chế thực thi pháp luật một cách khoa học và chuyên nghiệp. Nhà nước cần coi đầu tư cho xây dựng hệ thống pháp luật như đầu tư cho phát triển, trong đó bao gồm đầu tư xây dựng, kiện toàn bộ máy, nhân lực, khoa học và công nghệ.
Ba là, cần kết hợp hài hòa việc áp dụng các chuẩn mực văn hóa, đạo đức và các chuẩn mực xã hội khác với các quy định và chế tài của pháp luật.
Khi mọi người tự giác chấp hành pháp luật vì thấy đó là có lợi, đồng thời ý thức được rằng chấp hành pháp luật là đạo đức, là văn hóa, là văn minh, là thói quen và tập quán, thì việc thi hành pháp luật chắc chắn sẽ nhẹ nhàng hơn; bộ máy thực thi pháp luật sẽ tinh gọn hơn; chi phí tuân thủ và chi phí thi hành pháp luật sẽ giảm rõ rệt.
Là chuyên gia có kinh nghiệm sâu rộng trong xây dựng pháp luật, ông có gợi ý gì về phương hướng xây dựng và hoàn thiện thể chế hiện nay?
Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV và các nghị quyết liên quan của Đảng, trong đó có Nghị quyết 66 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, trong giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đột phá về thể chế phát triển của chúng ta chắc chắn sẽ tiếp tục được tiến hành mạnh mẽ và toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, hội nhập quốc tế.
Theo hướng đó, chúng ta xây dựng thể chế hiện đại nhưng vẫn mang đậm bản sắc dân tộc, coi thể chế là năng lực và lợi thế cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh phát triển mới.
Thể chế vì vậy trở thành động lực quan trọng hàng đầu của tăng trưởng hai con số, góp phần thực hiện hai mục tiêu chiến lược 100 năm.
Được biết, Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới đang được triển khai xây dựng; Hiến pháp năm 2013, sau 13 năm thi hành, cũng sẽ được tổng kết để xem xét sửa đổi một cách tổng thể.
Trên cơ sở đó, các thể chế về Nhà nước pháp quyền, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân; các thể chế về quản trị quốc gia, về mối quan hệ hài hòa giữa Nhà nước, xã hội và thị trường sẽ tiếp tục được hoàn thiện.
Điều quan trọng là toàn bộ quá trình này phải được thực hiện một cách nhất quán, đồng bộ và gắn chặt với yêu cầu phát triển thực tiễn của đất nước. Khi thể chế thực sự trở thành “đòn bẩy phát triển”, được vận hành thông suốt và hiệu quả, thì các mục tiêu tăng trưởng cao, phát triển nhanh và bền vững mới có cơ sở vững chắc để trở thành hiện thực.

Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh mạnh mẽ vai trò của thể chế đối với phát triển. Theo ông, từ góc độ khoa học và thực tiễn, thể chế bao gồm những nội dung gì và vì sao thể chế lại có ý nghĩa quyết định đối với kết quả phát triển của một quốc gia?
Thể chế được nghiên cứu trong các ngành khoa học kinh tế, chính trị, pháp luật, hành chính…, được áp dụng trong thực tiễn tại các quốc gia và tổ chức quốc tế, nên có thể được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, tùy theo ngữ cảnh.
Xét theo các đặc trưng cơ bản, có thể thống nhất quan niệm thể chế bao gồm các quy tắc (chế định, quy phạm, chuẩn mực) và cơ chế thực thi các quy tắc do Nhà nước và xã hội đặt ra, nhằm tạo khuôn khổ, giới hạn, ràng buộc, điều chỉnh và định hình các tương tác, các mối quan hệ giữa các chủ thể trong xã hội.
Xét theo tính chất, thể chế bao gồm thể chế chính thức và thể chế phi chính thức.
Thể chế chính thức do Nhà nước đặt ra, bao gồm hệ thống pháp luật và cơ chế tổ chức thực thi bởi Nhà nước, hoặc cơ chế tự thực thi giữa các chủ thể của quan hệ pháp luật nhưng được Nhà nước bảo vệ.
Còn thể chế phi chính thức do xã hội (các tổ chức, cộng đồng, thực tiễn hoạt động xã hội) đặt ra, không trái với quy định của pháp luật hoặc được Nhà nước công nhận, bao gồm hệ thống các chuẩn mực xã hội như chuẩn mực văn hóa, đạo đức, niềm tin, tập quán, thông lệ, tục lệ, lề lối… và cơ chế tự thực thi giữa các chủ thể của quan hệ xã hội; Nhà nước chỉ can thiệp trong những trường hợp cần thiết.
Xét theo lĩnh vực, có thể chế chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…
Có thể nói một cách ngắn gọn, thể chế bao gồm “luật” và “lệ”, hay còn được gọi là “luật chơi” trong xã hội, trong một quốc gia.
Ở nước ta, nói đến thể chế chủ yếu là nói đến hệ thống pháp luật và cơ chế tổ chức thực thi pháp luật. Bên cạnh khái niệm thể chế chính trị, còn có khái niệm hệ thống chính trị (trong Cương lĩnh của Đảng), khái niệm chế độ chính trị hoặc chính thể (trong Hiến pháp).
Lịch sử phát triển của thế giới cho thấy, những quốc gia có điều kiện tự nhiên và nguồn lực tương đồng nhưng khác nhau về thể chế thì kết quả phát triển hoàn toàn khác nhau. Có thể chế kìm hãm, có thể chế thúc đẩy phát triển.
Ở đâu có thể chế tốt, thể chế bao trùm, dung hợp được các chủ thể, các thành phần tham gia bình đẳng vào quản trị quốc gia, quản trị kinh tế – xã hội; đặc biệt là thể chế kiến tạo phát triển, khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát huy tối đa các điều kiện tự nhiên, bảo đảm phân bổ lợi ích hài hòa, công bằng, thì ở đó có thịnh vượng, có phát triển bền vững.
Ngược lại, ở đâu có thể chế loại trừ, tước đoạt, kìm hãm phát triển thì ở đó sẽ thất bại.
Nhận thức như vậy là cơ sở để xác định đúng vai trò của Nhà nước và xã hội trong việc đột phá thể chế một cách đúng và trúng, vừa đầy đủ, toàn diện, vừa có trọng tâm, trọng điểm: việc gì Nhà nước cần ban hành pháp luật để điều chỉnh, việc gì nên dành cho xã hội, trong đó có các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp, ngành hàng trên thị trường đặt ra các chuẩn mực xã hội để tự điều tiết.
Nhà nước cần tránh bao biện, ôm đồm, dẫn đến phình to bộ máy, gia tăng thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ và làm giảm hiệu quả thực thi.
Suy cho cùng, đột phá thể chế không chỉ là việc sửa luật hay ban hành thêm văn bản, mà là thay đổi cách Nhà nước và xã hội cùng tương tác với nhau vì mục tiêu phát triển, thịnh vượng và bền vững của đất nước.
