Kết quả đẹp
Con số tăng trưởng GDP 8,02% không chỉ vượt qua các kịch bản dự báo thận trọng của nhiều tổ chức quốc tế, mà còn trở thành một điểm nhấn hiếm hoi trong bức tranh kinh tế Đông Nam Á, nơi nhiều nền kinh tế lớn chỉ xoay quanh mức tăng 2–5%.

Trong bối cảnh tăng trưởng toàn cầu theo IMF và OECD chỉ khoảng 3,1–3,2%, việc Việt Nam duy trì được nhịp tăng cao, ổn định, có tính phục hồi rõ rệt đã cho thấy sức chịu đựng của nền kinh tế trước những va đập liên tiếp từ địa chính trị, thương mại quốc tế và thiên tai cực đoan.

Từ quý I đến quý IV, nền kinh tế đi theo một quỹ đạo khá liền mạch khi tốc độ tăng của từng quý đều nhích lên: 7,05%, 8,16%, 8,25% rồi 8,46%. Đó là sự hồi phục dần dần của sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch, tiêu dùng và đầu tư trong nước.

Công nghiệp và xây dựng tăng 8,8%, trong đó chế biến – chế tạo tăng gần 10%, mức cao nhất kể từ năm 2019; dịch vụ tăng 8,62% với lượng khách quốc tế ở mức cao chưa từng có; nông nghiệp – dù chịu ảnh hưởng nặng nề của bão lũ và sạt lở đất – vẫn giữ vai trò trụ đỡ ổn định với mức tăng gần 3,8%.

thep Hoa Phat (141).jpg
Khoảng cách giữa tăng trưởng 8% và hai con số chính là khoảng cách của mức độ quyết liệt trong việc tháo gỡ rào cản thể chế. Ảnh: Hoàng Hà

Cùng với đó, quy mô GDP theo giá hiện hành đạt khoảng 514 tỷ USD, tăng thêm 38 tỷ USD so với năm 2024; GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD; năng suất lao động theo giá so sánh tăng 6,83%; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ tăng lên 29,2%.

Khi đặt những con số này trong bối cảnh một năm vừa tổng kết kế hoạch 5 năm, vừa sắp xếp lại tổ chức bộ máy hành chính, vừa đẩy mạnh các cải cách pháp luật, vừa chống chọi với môi trường quốc tế bất định, có thể thấy nỗ lực của cả nền kinh tế không chỉ nằm trong diễn ngôn tổng kết, mà đã hiện lên trong hoạt động sản xuất – kinh doanh và đời sống xã hội.

Tăng trưởng 8,02% vì thế không đơn thuần là một “kết quả đẹp”. Nó cho thấy Việt Nam đã đi qua giai đoạn phục hồi và bắt đầu bước vào trạng thái tăng tốc mới.

Nhưng cũng từ chính con số ấy, một câu hỏi khác trở nên rõ ràng hơn, không thể né tránh: nếu giai đoạn 2026–2030, mục tiêu là tăng trưởng hai chữ số – từ 10% trở lên – thì con đường đi từ 8% lên 10% sẽ phải được xây dựng trên nền tảng nào, và bằng một mô hình tăng trưởng ra sao?

Hai mặt của phát triển

Nhìn lại chặng đường 2021–2025, nền kinh tế cho thấy một bức tranh hai mặt.

Một mặt, Việt Nam giữ vững ổn định vĩ mô trong bối cảnh đầy biến động, đẩy nhanh đầu tư hạ tầng quy mô lớn, mở rộng không gian phát triển cho khu vực tư nhân, thúc đẩy chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, tháo gỡ nhiều ách tắc pháp lý kéo dài ở doanh nghiệp và thị trường bất động sản.

Mặt khác, vẫn còn không ít chỉ tiêu khó hoàn thành: năng suất lao động trong chu kỳ 5 năm chưa tăng đủ mạnh như kỳ vọng; cơ cấu ngành công nghiệp và dịch vụ chưa chuyển dịch rõ rệt sang các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao; tiến độ hoàn thiện thể chế và sửa đổi các thiết chế kinh tế còn chậm; phân cấp – phân quyền đã mở rộng nhưng năng lực thực thi ở các cấp vẫn còn chênh lệch.

Tăng trưởng 8% của năm 2025 là một thành công có thật, được nâng đỡ bởi sự phục hồi của sản xuất, bởi độ mở của thương mại, bởi đầu tư công và bởi niềm tin thị trường dần quay trở lại.

Nhưng có thể thấy, tăng trưởng vẫn dựa nhiều vào các yếu tố mang tính chu kỳ như giải ngân đầu tư công, kích thích nhu cầu đầu tư, phục hồi thương mại và du lịch. Trong khi đó, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), bao gồm chất lượng thể chế, hiệu quả quản trị, năng lực công nghệ và sức cạnh tranh của doanh nghiệp,… vẫn chưa đạt mức bứt phá.

Ranh giới giữa một nền kinh tế tăng trưởng cao và một nền kinh tế tăng trưởng bền vững bắt đầu lộ diện. Tăng trưởng 8% có thể đạt được bằng cách đẩy mạnh đầu tư, nới lỏng một phần tín dụng, giải phóng các dự án hạ tầng tồn đọng, tháo nút thắt pháp lý.

Nhưng để đạt 10% và duy trì tốc độ ấy trong một chu kỳ dài, nền kinh tế không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng quy mô vốn và tài nguyên, mà phải bước sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng nguồn lực và đổi mới sáng tạo.

Chuyển đổi mô hình tăng trưởng

Tinh thần này cũng là nhận định chung của nhiều chuyên gia kinh tế trong một hội thảo của Viện Chiến lược và Chính sách Kinh tế – Tài chính.

Họ cho rằng, mô hình tăng trưởng dựa vào vốn và tài nguyên – dù từng đóng vai trò then chốt trong giai đoạn công nghiệp hóa đầu tiên – đang dần chạm ngưỡng; còn mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, dựa trên TFP, khoa học công nghệ, kinh tế số và năng lực của khu vực tư nhân, mới là động lực có thể tạo ra cú nhảy hai chữ số trong giai đoạn tới.

Trong bối cảnh đó, đầu tư công không thể chỉ được coi là bệ đỡ thường trực của tăng trưởng, mà phải trở thành đòn bẩy tạo lan tỏa, dẫn dắt nguồn lực xã hội vào các ngành có giá trị gia tăng cao.

Hạ tầng lớn chỉ thực sự phát huy tác dụng khi doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư, chấp nhận rủi ro, bước vào sản xuất và thị trường thật.

Tín dụng tăng nhanh có thể giúp nền kinh tế ấm lên trong ngắn hạn, nhưng nếu môi trường kinh doanh thiếu ổn định và khó dự đoán, doanh nghiệp sẽ không chuyển từ vốn ngắn hạn sang đầu tư dài hạn. 
Một nền kinh tế muốn tăng nhanh mà vẫn giữ ổn định vĩ mô thì không thể kéo dài cách tiếp cận “mở rộng quy mô trước, tính đến năng suất sau”.

Yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng vì vậy không chỉ nằm ở các biến số kinh tế, mà gắn chặt với chất lượng thể chế.

Khi rủi ro chính sách có thể dự đoán, thủ tục hành chính được rút gọn thực chất, quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh được bảo vệ nhất quán, phân cấp đi cùng trách nhiệm giải trình rõ ràng, thì năng suất sẽ hiện lên trong những quyết định đầu tư dài hạn của doanh nghiệp.

Điều này càng đúng với khu vực kinh tế tư nhân – khu vực nhiều năm trước đây đã được khẳng định là động lực quan trọng của nền kinh tế. Vai trò ấy đã xuất hiện trong nghị quyết, trong văn kiện, trong nhiều diễn đàn chính sách.

Nhưng để trở thành hiện thực, doanh nghiệp cần môi trường pháp lý rõ ràng, ổn định và bình đẳng để dám mở rộng quy mô, đầu tư công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Một nền kinh tế không thể tăng trưởng 10% chỉ bằng đầu tư công hay tín dụng rẻ; nó chỉ có thể đạt 10% khi khu vực tư nhân cảm thấy an toàn, tin tưởng và nhìn thấy tương lai trong các quyết định kinh doanh của mình.

Bước vào giai đoạn phát triển để ổn định theo cách thức nào?

Năm 2025 giống như một điểm chuyển trên đường phát triển. Nó cho thấy nền kinh tế Việt Nam có khả năng phục hồi tốt hơn so với suy nghĩ bi quan trong những năm khó khăn trước đó; đồng thời nhắc chúng ta rằng dư địa cho tăng trưởng theo chiều rộng không còn nhiều.

Chúng ta đã đi qua giai đoạn “ổn định để phát triển”; nhưng để bước sang giai đoạn “phát triển để ổn định”, nơi tăng trưởng cao trở thành nền tảng cho phúc lợi xã hội, năng lực cạnh tranh và an toàn kinh tế dài hạn, thì cải cách thể chế, nâng cao năng suất và dịch chuyển mô hình tăng trưởng phải trở thành trục trung tâm.

Khoảng cách giữa tăng trưởng 8% và hai con số chính là khoảng cách của mức độ quyết liệt trong việc tháo gỡ rào cản thể chế, bằng khả năng bảo vệ những người làm ăn chân chính, bằng việc khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo có thực sự đi vào từng ngành, từng doanh nghiệp, từng dự án hay không.

Nó cũng được đo bằng việc nền kinh tế có đủ dũng khí để chuyển từ tăng trưởng dựa vào nỗ lực, ý chí sang tăng trưởng dựa vào năng lực, thực lực để tăng trưởng nhanh và bền vững hơn.

Khi thu ngân sách vượt hơn 30% dự toánNăm 2025 dần khép lại với một con số gây ấn tượng mạnh: Thu ngân sách do cơ quan thuế quản lý lần đầu tiên vượt mốc hơn 2,2 triệu tỷ đồng, cao hơn 30% so với dự toán Quốc hội giao – một mức vượt thu kỷ lục.