Đắk Lắk là một trong những “thủ phủ” cây công nghiệp dài ngày và cây ăn quả của cả nước, với diện tích lớn cà phê, hồ tiêu, cao su, sầu riêng. Quy mô sản xuất rộng, sản lượng lớn đặt ra yêu cầu ngày càng cao về quản lý, minh bạch thông tin và dự báo thị trường. Trong bối cảnh đó, ứng dụng công nghệ thông tin được xem là chìa khóa giúp ngành nông nghiệp địa phương thoát khỏi vòng luẩn quẩn sản xuất theo kinh nghiệm, tiến tới điều hành dựa trên dữ liệu.

Những năm gần đây, nhiều hộ dân, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào từng công đoạn sản xuất. Nhật ký điện tử giúp ghi lại toàn bộ quá trình chăm sóc, sử dụng vật tư, thời điểm thu hoạch, phục vụ truy xuất nguồn gốc và cấp mã vùng trồng. Từ dữ liệu đó, cơ quan quản lý và doanh nghiệp thu mua có thể nắm rõ quy mô sản xuất, chất lượng sản phẩm và đưa ra dự báo sát hơn về nguồn cung.

W-cảm biến.png
Hệ thống cảm biến theo dõi điều kiện tự nhiên của cây trồng.

Tại Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Tân Pháp, xã Ea Tul, công nghệ số đã trở thành “trợ lý” quen thuộc của nông dân. Các thành viên hợp tác xã sử dụng nhật ký điện tử kết hợp cảm biến môi trường để theo dõi điều kiện tự nhiên, độ ẩm đất, nhu cầu nước của cây. Hệ thống tưới tự động, bón phân định lượng và giám sát vườn cây đều được điều khiển từ xa qua điện thoại thông minh. Nhờ đó, dữ liệu sản xuất được cập nhật liên tục, tạo nền tảng cho việc đánh giá năng suất, thời điểm thu hoạch và khả năng cung ứng ra thị trường.

Chị Thanh Hà, thành viên hợp tác xã chia sẻ, toàn bộ diện tích vườn sầu riêng của gia đình được sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, có hệ thống tưới tự động, quy trình bón phân và bảo vệ thực vật rõ ràng. Camera an ninh được lắp đặt để giám sát vườn cây. Mỗi thao tác sản xuất đều được ghi nhận trên nhật ký điện tử, vừa phục vụ quản lý, vừa đáp ứng yêu cầu truy xuất khi tiêu thụ.

Ở góc độ người trồng, ông Tạ Hữu Điểm, hộ dân tại xã Ea Tul cho rằng, việc áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin mang lại hiệu quả rõ rệt. Dữ liệu sản xuất giúp người dân nhìn thấy chi phí, công lao động và mức hao hụt, từ đó tính toán giá thành chính xác hơn. Khi nắm rõ giá thành và xu hướng thị trường, người trồng có cơ sở để quyết định đầu tư, mở rộng hay điều chỉnh sản xuất.

Giá trị của nhật ký điện tử và các giải pháp công nghệ số không dừng lại ở quản lý vườn cây. Hệ thống dữ liệu tích lũy theo thời gian cho phép phân tích sản lượng theo vùng, theo mùa vụ, kết hợp với thông tin tiêu thụ để dự báo cung – cầu. Đây là nền tảng quan trọng giúp địa phương chủ động hơn trong điều hành sản xuất, hạn chế rủi ro dư thừa hay thiếu hụt nguồn hàng.

W-sầu riêng nông sản.png
Việc ứng dụng công nghệ sẽ tạo nền tảng cho việc đánh giá năng suất, thời điểm thu hoạch và khả năng cung ứng ra thị trường.

Theo Hiệp hội Nông nghiệp số, việc cập nhật công nghệ từ giống, quy trình canh tác, quản lý đến truyền thông và xây dựng thương hiệu là yêu cầu tất yếu. Dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và Internet vạn vật mở ra khả năng phân tích sâu về thị trường, nhận diện sớm biến động giá, nhu cầu và thị hiếu. Khi có thông tin dự báo đáng tin cậy, nông dân và doanh nghiệp sẽ tìm ra sự khác biệt để nâng cao sức cạnh tranh.

Về phía quản lý nhà nước, ứng dụng công nghệ thông tin trong thu thập và phân tích dữ liệu giúp tăng tính minh bạch, hỗ trợ thanh tra, kiểm tra hoạt động sản xuất. Cơ quan chuyên môn có thể đánh giá mức độ đáp ứng tiêu chuẩn của từng vùng trồng, từng cơ sở, đồng thời xây dựng kịch bản điều hành thị trường sát thực tế hơn.

Thời gian tới, Đắk Lắk xác định tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số trong nông nghiệp, tập trung vào các loại cây trồng chủ lực. Việc giám sát quá trình sản xuất, thu hoạch, bảo quản, truy xuất nguồn gốc sẽ được tăng cường, song song với hỗ trợ nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin trong kinh doanh. Khi dữ liệu được chuẩn hóa và liên thông, công tác dự báo thị trường nông sản sẽ có độ chính xác cao hơn, góp phần nâng giá trị gia tăng, phát triển bền vững cho nông sản địa phương.