Khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2007, tôi đã đi làm được khoảng 5 năm. Khi ấy, tôi từng lo nhiều doanh nghiệp trong nước sẽ không chịu nổi sức ép cạnh tranh, có thể phá sản hàng loạt và nền kinh tế phải trả giá rất đắt.

Gần hai thập kỷ nhìn lại, tôi thấy mình không sai khi nhìn thấy những rủi ro nhưng đã đánh giá thấp khả năng thích nghi của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế khi buộc phải bước ra cạnh tranh thực sự. Có những năng lực chỉ hình thành khi người ta được tự quyết, tự chịu trách nhiệm và không còn có thể trông chờ người khác quyết định thay.

quan 1 tphcm 68 299.jpg
Ảnh: Nguyễn Huế

Tôi nhớ lại câu chuyện đó khi nhìn vào quá trình Đảng ta kiên trì thúc đẩy phân cấp, phân quyền, từ Nghị quyết 27/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới đến ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền 3 cấp ngày 1/7 vừa qua.

Tại hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với bảo đảm nguồn lực và kiểm soát quyền lực, đồng thời chỉ ra nguy cơ cấp trên không nắm chắc cơ sở hoặc cấp dưới phải xin ý kiến quá nhiều. Việc đưa tỷ lệ công việc cấp xã phải xin ý kiến cấp trên vào nhóm chỉ số theo dõi cho thấy phân quyền phải được tiếp tục đo lường, phát hiện điểm nghẽn và điều chỉnh.

Giao quyền xuống thì ai kiểm soát người được trao quyền?

Đây là một trong những câu hỏi khó nhất của phân quyền. Nhưng nếu vì muốn kiểm soát mà những việc quan trọng vẫn phải xin ý kiến cấp trên, thì quyền trên văn bản đã giao xuống, còn quyền quyết định thực tế vẫn nằm ở trên. Người dưới khó chủ động, người trên quá tải, trách nhiệm cũng mờ đi.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy bài toán này không mới. Hiến chương châu Âu về tự quản địa phương quy định giám sát hành chính đối với chính quyền địa phương phải có căn cứ pháp luật; với thẩm quyền thuộc về địa phương, giám sát chủ yếu nhằm bảo đảm tuân thủ pháp luật và các nguyên tắc hiến định, còn mức độ can thiệp phải tương xứng với lợi ích cần bảo vệ.

Đằng sau cách diễn đạt có vẻ pháp lý ấy là một nguyên tắc giản dị: kiểm soát quyền lực không nhất thiết có nghĩa là cấp trên được quyền quyết định lại mọi việc của cấp dưới. Nếu một việc đã thuộc thẩm quyền địa phương, cấp trên có thể hỏi quyết định có đúng luật, có vượt thẩm quyền, có xung đột lợi ích, kết quả có đạt chuẩn hay không. Nhưng nếu cấp trên luôn có thể nói “tôi thấy phương án khác tốt hơn nên anh phải làm theo” thì rất khó nói quyền quyết định đã thực sự được trao.

New Zealand cũng đặt một ranh giới đáng chú ý. Luật Chính quyền địa phương yêu cầu Tổng Kiểm toán xem xét việc tuân thủ pháp luật, chất lượng thông tin và các giả định làm cơ sở cho kế hoạch dài hạn nhưng không bình luận thay về giá trị lựa chọn chính sách. Người kiểm tra được quyền xem quyết định có đúng thẩm quyền, đúng quy trình và có vụ lợi hay không và họ không mặc nhiên trở thành một cấp quyết định thứ hai.

Cách phân định đó rất gần với ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa 14 ngày 29/7, triển khai Nghị quyết số 17 ngày 24/7.

Khi phân vai giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh phải bảo đảm liên thông giữa lãnh đạo, thể chế hóa, tổ chức thực hiện và giám sát nhưng “không làm thay chức năng của nhau”. Theo tôi, đây cũng là nguyên tắc quan trọng của phân quyền: giám sát phải giúp quyền được giao thực hiện đúng, chứ không biến người giám sát thành cấp quyết định thứ hai.

Phân biệt này quan trọng vì quyền quyết định bao giờ cũng đi kèm khả năng có quyết định không tối ưu. Nếu mọi quyết định không thành công đều có nguy cơ trở thành vấn đề trách nhiệm cá nhân, cách an toàn nhất sẽ là không quyết, hoặc xin ý kiến cấp trên trước khi quyết. Khi ấy chính cơ chế kiểm soát có thể làm phân quyền mất tác dụng.

Nhưng trao cho cấp dưới khoảng tự quyết lớn hơn cũng không thể đồng nghĩa với buông lỏng. Brazil là một ví dụ đáng quan tâm. Tòa Kiểm toán Liên bang nước này sử dụng hệ thống Alice để thu thập dữ liệu đấu thầu, đối chiếu dữ liệu giá, nhận diện dấu hiệu bất thường rồi cảnh báo cho kiểm toán viên. Máy không thay con người kết luận vi phạm mà nó giúp biết hồ sơ nào cần nhìn kỹ hơn. Khi quyền lực để lại dấu vết số, cấp trên có thể nhìn thấy nhiều hơn mà chưa chắc phải can thiệp nhiều hơn.

TBT to lam 9435 989.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 14. Ảnh: Phạm Hải

Nói cách khác, trao quyền quyết định không có nghĩa là trao quyền che giấu quyết định. Nhưng được quyền giám sát cũng không mặc nhiên có nghĩa là được quyền quyết định lại.

Có thể hình dung quyền được phân cấp như những làn đường. Trong “vùng xanh”, việc đúng thẩm quyền, trong hạn mức và không có dấu hiệu rủi ro thì người có thẩm quyền được tự quyết. Khi xuất hiện dấu hiệu bất thường về giá trị giao dịch, xung đột lợi ích, khiếu nại hay mức độ lệch chuẩn, công việc bước vào “vùng vàng”: người có thẩm quyền vẫn được quyết nhưng phải giải trình nhiều hơn. Chỉ khi vượt giới hạn pháp luật hoặc xuất hiện nguy cơ tham nhũng, lạm quyền nghiêm trọng, công việc mới vào “vùng đỏ” và quyền can thiệp của cấp trên được kích hoạt.

Cảnh báo không đồng nghĩa với xin phép. Nếu cứ có cảnh báo là hồ sơ phải dừng chờ cấp trên đồng ý thì công nghệ mới chỉ số hóa cơ chế xin - cho cũ.

Hướng tiếp cận này gần với những yêu cầu mới của Nghị quyết số 05 của Hội nghị Trung ương 2 khóa 14 về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng yêu cầu chuyển trọng tâm kiểm tra, giám sát sang phòng ngừa, cảnh báo vi phạm và tăng giám sát trên dữ liệu. Trong phát biểu ngày 29/7, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng yêu cầu hệ thống thông tin phải phục vụ điều hành, cảnh báo, giám sát và quy trách nhiệm, chứ không tạo thêm thủ tục hay báo cáo hình thức. Kiểm soát tốt vì vậy không nhất thiết là kiểm soát nhiều hơn, mà là kiểm soát đúng chỗ và nhìn thấy rủi ro sớm hơn.

Từ xin phép trước đến kiểm soát bằng dữ liệu và trách nhiệm

Từ những kinh nghiệm đó, Việt Nam có thể dần chuyển trọng tâm kiểm soát quyền lực theo 3 hướng. Trước hết, từ xin phép trước sang xác định rõ ranh giới quyền: đâu là phần được tự quyết, ngưỡng nào phải báo cáo, trường hợp nào không được quyết và ai chịu trách nhiệm cuối cùng. Phân cấp không chỉ là chuyển việc mà phải chuyển đủ thẩm quyền, nguồn lực, dữ liệu, công cụ và trách nhiệm.

Tiếp theo, từ kiểm tra đại trà sang giám sát dựa trên dữ liệu và rủi ro. Một nền hành chính tinh gọn không thể cứ phân quyền thêm một việc lại tạo thêm một tầng giấy tờ để kiểm soát việc ấy. Dữ liệu phải giúp phát hiện sớm nơi có bất thường, để thanh tra, kiểm toán tập trung vào những chỗ thực sự cần thiết.

Cuối cùng, từ việc xem cấp dưới có làm giống ý cấp trên hay không sang xem họ có đúng thẩm quyền, đúng pháp luật, minh bạch và đạt kết quả hay không. Một quyết định đúng thẩm quyền, đúng quy trình, dựa trên căn cứ chuyên môn và không vụ lợi cần được nhìn khác với hành vi cố ý lách luật, che giấu xung đột lợi ích hay trục lợi.

Ý kiến chỉ đạo ngày 29/7 còn nêu một điểm rất đáng chú ý: cấp xã phải “tự trưởng thành qua tổ chức triển khai công việc”, nỗ lực đảm đương nhiệm vụ được giao và không đẩy lên trên việc thuộc trách nhiệm của mình. Phân quyền vì thế không chỉ đòi hỏi cấp trên biết trao quyền mà còn đòi hỏi cấp dưới dám nhận quyền, dám quyết và chịu trách nhiệm.

Còn một nguyên tắc ít được nói tới: người kiểm soát cũng phải có giới hạn quyền lực. Thanh tra, kiểm toán và cấp trên đều cần quyền giám sát, nhưng kiểm tra điều gì, khi nào được đình chỉ quyết định của cấp dưới, mức độ can thiệp đến đâu và khi nào quyền ấy chấm dứt cũng phải rõ. Nếu quyền quyết định của địa phương có ranh giới thì quyền can thiệp của cấp trên cũng cần ranh giới.

Phân quyền thành công vì vậy có lẽ không nên chỉ đo bằng số nhiệm vụ đã chuyển xuống. Một chỉ số đáng suy nghĩ hơn là: trong số những việc đã thuộc thẩm quyền của mình, cấp dưới còn phải xin ý kiến cấp trên bao nhiêu việc. Người được trao quyền phải biết rõ mình được quyết đến đâu, có đủ điều kiện để quyết và chịu trách nhiệm về quyết định ấy. Người ở cấp trên phải nhìn thấy rủi ro, phát hiện sai lệch và có khả năng can thiệp khi cần, nhưng cũng phải có kỷ luật để không quyết định thay những việc mình đã thực sự trao quyền.

Trao quyền và kiểm soát quyền lực không phải hai mục tiêu đối nghịch. Càng phân định rõ ai có quyền quyết, ai có quyền giám sát và mỗi quyền dừng lại ở đâu thì cả sự chủ động lẫn khả năng kiểm soát đều có thể mạnh hơn.