Để hiểu rõ hơn về nội dung này, phóng viên Báo VietNamNet đã có cuộc trò chuyện với Đại tá Trần Quang Tùng, Chính ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai.

Thưa ông, thời gian qua Bộ đội Biên phòng (BĐBP) Lào Cai đã triển khai những mô hình, chương trình cụ thể nào để giúp đồng bào vùng biên giới tiếp cận thông tin và tri thức?
Đại tá Trần Quang Tùng: Cùng với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, BĐBP Lào Cai luôn xác định công tác dân vận, hỗ trợ nhân dân phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội là nhiệm vụ trọng tâm. Những năm qua, chúng tôi đã triển khai nhiều mô hình thiết thực, vừa hỗ trợ sinh kế, vừa giúp người dân tiếp cận thông tin, từng bước nâng cao dân trí và thu hẹp khoảng cách số ở khu vực biên giới.
Từ năm 2015 đến nay, BĐBP tỉnh đã duy trì 27 mô hình “Dân vận khéo”, huy động được hơn 18.000 ngày công, hỗ trợ cây giống, con giống và tiền mặt cho nhân dân phát triển kinh tế với tổng trị giá trên 4 tỷ đồng. Đồng thời, chúng tôi vận động xây dựng được 88 căn nhà “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới”; sửa chữa hơn 300 căn nhà dột nát cho đồng bào khó khăn với tổng trị giá 31,7 tỷ đồng.
Riêng trong công tác giảm nghèo thông tin, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai duy trì hiệu quả các mô hình: “Tủ sách pháp luật”, “Tiếng loa Biên phòng”, số hóa văn bản pháp luật bằng mã QR, và sân khấu hóa nội dung tuyên truyền để bà con dễ hiểu, dễ nhớ. Qua đó, người dân không chỉ được tiếp cận nguồn thông tin chính thống mà còn từng bước hình thành thói quen chủ động tìm hiểu thông tin, tri thức phục vụ cuộc sống.
Ông có thể chia sẻ rõ hơn Chương trình “Nâng bước em tới trường - Con nuôi Đồn Biên phòng” và các lớp xóa mù chữ đã mang lại những thay đổi căn bản gì cho học sinh và người dân vùng biên?
Đây là những mô hình tiêu biểu, mang tính bền vững cao trong công tác dân vận của BĐBP Lào Cai. Hiệu quả lớn nhất không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ các em đến trường (không để học sinh phải bỏ học sớm/ thất học), mà quan trọng hơn là góp phần thay đổi nhận thức của người dân về vai trò của tri thức, của việc học đối với tương lai con em và sự phát triển của bản làng.
Đến nay, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai đã hỗ trợ được 174 lượt học sinh có hoàn cảnh khó khăn, mồ côi ở khu vực biên giới, trong đó có 22 cháu được đón về nuôi dưỡng trực tiếp tại các đồn biên phòng. Song song với đó, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai đã phối hợp mở 29 lớp xóa mù chữ, vận động nhiều học sinh bỏ học quay trở lại trường.
Từ những việc làm bền bỉ đó, trình độ và nhận thức của bà con vùng biên đã có chuyển biến rõ rệt. Nhiều người trước đây không biết chữ, nay đã biết đọc, biết viết, biết tự tiếp cận thông tin thay vì phải "điểm chỉ" văn bản, giấy tờ nhân thân hay mỗi khi phải làm thủ tục hành chính như trước. Khi biết chữ, bà con đã chủ động tự tìm hiểu thông tin chính sách, pháp luật, chủ động tiếp cận kiến thức khoa học kỹ thuật (thông qua các hình thức tuyên truyền của Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai hoặc sử dụng điện thoại thông minh) để áp dụng vào sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống và tích cực tham gia bảo vệ biên giới.
Để thông tin pháp luật và tri thức khoa học đi vào đời sống, BĐBP Lào Cai đã đổi mới phương thức tiếp cận đưa thông tin hướng về cơ sở như thế nào, thưa ông?
Chúng tôi xác định công tác tuyên truyền phải đổi mới toàn diện cả về nội dung, hình thức lẫn phương pháp; phải đo lường bằng sự phù hợp với từng đối tượng, từng địa bàn để người dân "dễ tiếp cận, dễ hiểu, dễ làm theo".
Theo đó, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai đã đẩy mạnh sân khấu hóa nội dung tuyên truyền, sử dụng tiếng Mông, tiếng Dao (hai ngôn ngữ phổ biến nhất tại địa phương sau tiếng Kinh-NV) trong phổ biến thông tin pháp luật. Đội ngũ cán bộ chiến sĩ theo tinh thần "cầm tay chỉ việc"; luôn quán triệt phương châm “3 bám, 4 cùng” (bám đơn vị, bám địa bàn, bám chủ trương chính sách; cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng đồng bào) để xây dựng mối quan hệ máu thịt với nhân dân.
Đặc biệt, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai đã duy trì rất tốt mô hình “Đảng viên đồn Biên phòng sinh hoạt tại các chi bộ thôn, bản” và “Phân công đảng viên đồn Biên phòng phụ trách các hộ gia đình khu vực biên giới”. Qua đó, cán bộ biên phòng có thể trực tiếp “cầm tay, chỉ việc”, đồng hành cùng bà con trong phát triển kinh tế, xây dựng nông thôn mới, xây dựng vùng biên an ninh, an toàn.
Trong quá trình bám bản bám dân đó, ông có thể chia sẻ thêm những câu chuyện hoặc mô hình điển hình mà Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai đã thực hiện?
Mô hình sáng kiến thì nhiều, nhưng tiêu biểu nhất phải kể đến mô hình “Bộ đội Biên phòng Lào Cai đồng hành cùng thôn, bản nói không với tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống”.

Trước năm 2021 trên địa bàn 02 xã Dìn Chin và Tả Gia Khâu, huyện Mường Khương (trước khi sáp nhập đơn vị hành chính-1/7/2025) nay là xã Pha Long, trung bình có từ 8 đến 10 trường hợp tảo hôn mỗi năm. Với quyết tâm cao, cán bộ, chiến sĩ BĐBP và chính quyền địa phương đã vào cuộc bằng những hành động rất cụ thể: từ tuyên truyền tập trung, phát tờ rơi, căng băng rôn, áp phích, đến việc đi từng ngõ, gõ từng nhà để ký cam kết.
Kết quả, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai cùng chính quyền cơ sở đã kịp thời ngăn chặn 5 cặp có ý định tảo hôn và đến nay đã chấm dứt hoàn toàn tình trạng tảo hôn trên địa bàn 2 xã nói trên, biến nơi Pha Long trở thành xã điểm kiểu mẫu. Giờ đây, nhân dân xã Pha Long đã nắm chắc, hiểu sâu về Luật Hôn nhân và Gia đình, nhận thức rõ hệ lụy của tảo hôn để chuyên tâm lao động sản xuất, vươn lên thoát nghèo bền vững.
Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ hiện nay, BĐBP Lào Cai đã ứng dụng công nghệ gì để giải bài toán "giảm nghèo thông tin" cho đồng bào, thưa ông?
Bên cạnh các hình thức truyền thống, chúng tôi đã chủ động triển khai mô hình “Bộ đội Biên phòng đồng hành chuyển đổi số nơi biên giới”. Trọng tâm là số hóa các văn bản liên quan đến đời sống nhân dân, văn bản pháp luật về biên giới, biên phòng; đồng thời tích hợp các cảnh báo thủ đoạn lừa đảo trên không gian mạng. Các văn bản, nội dung tuyên truyền được số hóa, dán mã QR theo từng nội dung tuyên truyền để phổ biến đến từng thôn bản và người dân.
Cán bộ biên phòng cũng trực tiếp hướng dẫn người dân cách truy cập mạng Internet, tìm kiếm văn bản pháp luật, tiếp cận các nền tảng số và đặc biệt là học cách trao đổi, mua bán nông sản, hàng hóa trên môi trường mạng - tiếp cận các nền tảng thương mại điện tử. Nhờ vậy, bà con vùng biên từng bước được nâng cao kỹ năng số, biết sàng lọc thông tin chính thống với thông tin xấu độc và đã có khả năng ứng dụng công nghệ vào cuộc sống hàng ngày.
Trong thời gian tới, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác này, gắn các mô hình của lực lượng với các Chương trình mục tiêu quốc gia. Mục tiêu cao nhất của Bộ đội Biên phòng tỉnh Lào Cai là giúp người dân khu vực biên giới chuyển từ “chờ đợi thông tin” sang “chủ động tìm hiểu và ứng dụng thông tin vào đời sống”. Đó chính là chìa khóa để người dân giảm nghèo bền vững, đồng thời sát cánh cùng Bộ đội Biên phòng bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.
Xin trân trọng cảm ơn ông!