Bức tranh ấy cho thấy khu vực doanh nghiệp Việt Nam chưa mất sức hút, nhưng sức khỏe bên trong vẫn chưa mạnh. Vấn đề lúc này không chỉ là có thêm bao nhiêu doanh nghiệp được thành lập, mà là bao nhiêu doanh nghiệp có thể tồn tại, tích lũy và lớn lên.

Bức tranh doanh nghiệp trong sáu tháng đầu năm 2026 cho thấy sức hút của thị trường vẫn được duy trì. Cả nước có 169.842 doanh nghiệp gia nhập và quay trở lại hoạt động, tăng 11,2% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô vốn của doanh nghiệp mới cũng tiếp tục được cải thiện, với vốn đăng ký bình quân tăng 35,7%.

Tuy nhiên, phía sau những tín hiệu tích cực ấy là áp lực ngày càng lớn đối với khu vực doanh nghiệp. Sáu tháng đầu năm có 151.067 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, tăng 18,8%, nhanh hơn tốc độ gia nhập. Diễn biến trong tháng 6 cũng cho thấy xu hướng sàng lọc rõ nét hơn khi số doanh nghiệp thành lập mới giảm, trong khi quy mô vốn của dòng doanh nghiệp mới lại tăng mạnh.

Vì vậy, thước đo sức khỏe của khu vực doanh nghiệp không còn nằm ở số lượng doanh nghiệp được thành lập, mà ở khả năng tồn tại, mở rộng và phát triển bền vững của họ.

Đông hơn nhưng chưa 'khỏe' hơn

Đáng chú ý hơn, theo ông Phạm Ngọc Thạch, Phó Trưởng ban Pháp chế, VCCI, trong hơn một triệu doanh nghiệp đang hoạt động, có khoảng 420.000 doanh nghiệp có lãi, trong khi khoảng 432.000 doanh nghiệp báo lỗ. Điều đó có nghĩa là khu vực doanh nghiệp vẫn còn rất nhiều đơn vị chưa tạo được lợi nhuận đủ để tích lũy và tái đầu tư.

Bản chất của vấn đề nằm ở cấu trúc doanh nghiệp. Khoảng 70% doanh nghiệp ngoài Nhà nước có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng và 81,4% sử dụng dưới 10 lao động. Phần lớn doanh nghiệp vẫn ở quy mô rất nhỏ, nguồn lực hạn chế và khó hình thành lợi thế cạnh tranh.

Điều này được phản ánh rõ qua hiệu quả kinh doanh. Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp ngoài Nhà nước chỉ đạt 2,22%, thấp hơn nhiều so với mức 5,25% của doanh nghiệp FDI và 8,3% của doanh nghiệp Nhà nước. Với biên lợi nhuận mỏng như vậy, theo ông Thạch, chỉ một biến động nhỏ về thị trường, chi phí hay lãi suất cũng có thể khiến doanh nghiệp rơi vào khó khăn.

mua sam   tieu dung   thach thao (24).jpg
Bức tranh doanh nghiệp trong sáu tháng đầu năm 2026 cho thấy sức hút của thị trường vẫn được duy trì. Ảnh: Nguyễn Huế

Khảo sát của VCCI cho thấy trở ngại lớn nhất hiện nay là thị trường. Có tới 60,2% doanh nghiệp cho biết khó tìm kiếm khách hàng và đầu ra cho sản phẩm.

Ngay cả khi có đơn hàng, khả năng tiếp cận tín dụng vẫn là rào cản lớn. Có tới 75,5% doanh nghiệp gặp khó khăn khi tiếp cận vốn vay ngân hàng, trong đó 93,5% khoản vay vẫn yêu cầu tài sản thế chấp. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp hay doanh nghiệp đổi mới sáng tạo vẫn khó tiếp cận vốn, dù có phương án kinh doanh khả thi.

Bức tranh ấy cũng phản chiếu ở khu vực hộ kinh doanh. Việt Nam hiện có khoảng 6,1 triệu hộ kinh doanh, tạo việc làm cho gần 10 triệu lao động. Đây là khu vực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế, nhưng cũng là khu vực có sức chống chịu khá mong manh khi có tới 73,7% số hộ chỉ đạt mức "lãi ít".

Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn, khả năng chống chịu ấy càng bị thử thách. Có tới 53,5% doanh nghiệp sản xuất cho biết đơn hàng xuất khẩu bị giảm do những biến động từ thị trường quốc tế.

Theo ông Thạch, nhìn tổng thể, doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn đang ở trạng thái "đông nhưng chưa khỏe". Số lượng doanh nghiệp tiếp tục tăng, nhưng quy mô nhỏ, lợi nhuận thấp, khả năng tích lũy hạn chế và sức chống chịu trước biến động vẫn còn yếu.

Dư địa lớn nhất vẫn nằm ở thực thi thể chế

Bên cạnh những khó khăn từ thị trường, doanh nghiệp vẫn đang phải đối mặt với không ít rào cản từ môi trường kinh doanh.

Trong nửa đầu năm 2026, VCCI tiếp nhận 879 phản ánh của doanh nghiệp liên quan đến pháp luật kinh doanh. Trong đó, 51,4% phản ánh quy định chưa rõ ràng hoặc thiếu tính khả thi; 36,7% cho rằng chi phí tuân thủ còn cao; 11,8% phản ánh sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các quy định.

Tuy nhiên, bức tranh cũng có những gam màu sáng. Trong năm 2025, có 3.085 thủ tục hành chính được cắt giảm hoặc đơn giản hóa. Mức độ hài lòng của doanh nghiệp đối với dịch vụ công trực tuyến cũng đạt khoảng 90-91%, cho thấy cải cách đang diễn ra và đã tạo ra những chuyển biến bước đầu.

Ông Thạch cho rằng cần ưu tiên năm nhóm giải pháp. Trước hết là khơi thông vốn lưu động và từng bước chuyển từ cho vay dựa chủ yếu vào tài sản thế chấp sang đánh giá dòng tiền, phương án kinh doanh của doanh nghiệp.

Với khu vực hộ kinh doanh, cần giảm chi phí tuân thủ về thuế, kế toán, hóa đơn điện tử; đồng thời xây dựng lộ trình phù hợp để các hộ có điều kiện chuyển đổi thành doanh nghiệp. Trước những cú sốc từ bên ngoài, doanh nghiệp cũng cần được hỗ trợ giảm chi phí logistics, đa dạng hóa nguồn cung, thị trường và phát huy hiệu quả hơn vai trò của ngoại giao kinh tế.

Về thể chế, trọng tâm cải cách cần chuyển từ đếm số lượng thủ tục được cắt giảm sang đánh giá chất lượng thực thi, đồng thời đẩy mạnh hậu kiểm thay cho tiền kiểm.

Tóm lại, số lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường vẫn được duy trì, quy mô vốn của doanh nghiệp mới có xu hướng cải thiện và cải cách hành chính đã có những kết quả bước đầu. 

Tuy nhiên, lợi nhuận thấp, quy mô nhỏ, khó khăn về đầu ra, khả năng tiếp cận vốn và những điểm nghẽn thể chế cho thấy sức chống chịu của khu vực doanh nghiệp vẫn còn hạn chế.

Theo ông Thạch, dư địa lớn nhất trong giai đoạn tới nằm ở việc nâng cao hiệu quả thực thi thể chế để những cải cách đã ban hành thực sự chuyển hóa thành thay đổi trong môi trường kinh doanh.