Múa là lĩnh vực đặc thù bậc nhất trong các ngành nghệ thuật, đòi hỏi người nghệ sĩ phải kiên trì khổ luyện trong nhiều năm mới thành tài. Ngay cả khi đã là nghệ sĩ thành danh, họ cũng phải nỗ lực tập luyện không ngừng, vượt qua giới hạn về thể lực và tinh thần của bản thân. VietNamNet triển khai loạt bài về các nghệ sĩ múa với những góc khuất về nghề nghiệp và cuộc sống mà không phải ai cũng biết, những khó khăn mà họ phải trải qua nhưng không nhiều người hiểu.
Từ lớp học đầu tiên của múa Việt Nam đến giảng đường Moscow
Năm 1959, khi còn là nữ sinh trường Huỳnh Thúc Kháng ở Vinh, trong gia đình không có ai làm nghệ thuật - điều gì đã khiến bà nộp đơn vào khóa đầu tiên của trường Múa Việt Nam và gia đình khi đó phản ứng như thế nào?
Khi đó tôi chưa đầy 16 tuổi, trong sáng và có nhiều hoài bão. Nghe trường múa vào tuyển sinh, tôi cùng các bạn cùng lớp rủ nhau đi thử cho vui không ngờ lại đỗ vòng sơ tuyển. Sau đó trường đưa những người trúng sơ tuyển ra Hà Nội để chuyên gia nước ngoài tuyển vòng cuối.
Bố mẹ không ngăn cản nhưng cũng không kỳ vọng gì. Bố tôi nói ở Hà Nội có nhiều người giỏi, được đào tạo kỹ lưỡng, chắc không trúng được đâu, thôi tiện kết hợp về thăm quê, thăm họ hàng ở Phú Xuyên. Thế là tôi đi ra Hà Nội và không ngờ lại trúng tuyển chính thức.

Sau 1 năm học tại trường Múa Hà Nội, bà được cử sang Trường Đại học Sân khấu Quốc gia Liên Xô - nơi đào tạo hàng đầu thế giới lúc bấy giờ. Áp lực như thế nào khi là 1 trong những người đầu tiên của Việt Nam học lĩnh vực này?
Thông thường, để vào học tại Trường Đại học Sân khấu Quốc gia toàn Liên bang, người ta phải học hết 8 năm chương trình trung cấp múa mới đủ điều kiện. Còn chúng tôi mới chỉ học có 1 năm khoảng cách đó là rất lớn và phải tìm cách khắc phục.
Khi đó nhà trường bên Nga quyết định mỗi buổi sáng, trước khi vào chương trình chính, sẽ dạy thêm 2 tiếng ballet và múa tính cách cho các sinh viên Việt Nam. Học xong giờ phụ này mới tiếp tục vào học nghệ thuật biên đạo múa của nhà trường. Ngoài chuyên môn múa, chúng tôi còn phải học lịch sử âm nhạc, lịch sử văn học thế giới, lịch sử sân khấu, hội họa, triết học, mỹ học... Đó là khoảng thời gian vô căng thẳng, nhất là năm đầu khi tiếng Nga chưa đủ để đọc sách một cách thuần thục.
- Bà học lịch sử văn học, lịch sử âm nhạc… ra sao khi tiếng Nga còn hạn chế?
Tôi nghĩ cứ theo kiểu thông thường không thể theo kịp cường độ học của nhà trường, cần phải có cách học khác. Sau các giờ lên lớp buổi sáng, tôi ăn vội mẩu bánh mì rồi đi vào các nhà hát xem các vở diễn sân khấu: kịch, opera, múa, và cả điện ảnh vừa nắm được nội dung để thi các môn lý luận nghệ thuật vừa học phương pháp, thẩm mỹ dàn dựng của các nghệ sĩ lớn. Thời đó, tôi đi tất cả các nhà hát tại Moscow.
Để có thể vào được những nhà hát lớn, tôi còn lên Đại sứ quán Việt Nam ở Moscow xin một giấy giới thiệu. Kết hợp với giấy của nhà trường, tôi được đặc cách vào thư viện Lenin và Nhà hát Lớn Bolshoi - nơi biểu diễn opera và ballet đỉnh cao không chỉ của Nga mà của quốc tế, khách nước ngoài đến Nga không phải ai muốn vào là vào được. Cách học đó có tác dụng lâu dài vừa học tiếng Nga qua thực tế, vừa trực tiếp chiêm ngưỡng phương pháp dàn dựng của các bậc thầy thế giới.
Quyết định tình cờ và 60 năm gắn bó với nghề biên đạo
- Năm 1964, bà và các sinh viên về nước khi chưa kịp tốt nghiệp vì tình hình chiến tranh. Bà được nhận thẳng về Nhà hát Ca Múa Nhạc Việt Nam - cơ duyên đó đến từ đâu?
Khi tôi thi môn nghệ thuật biên đạo năm thứ 3 tại Moscow, tình cờ có anh Minh Hiến - Phó Giám đốc Nhà hát Ca Múa Nhạc Việt Nam được cử sang thực tập và vào xem giờ thi của lớp tôi. Hôm đó, tôi thi tác phẩm Những cánh chim rừng được điểm 5 - điểm cao nhất của nhà trường. Khi về nước, anh Minh Hiến giới thiệu tôi với nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương là giám đốc nhà hát và đề nghị nhận tôi về. Do vậy tôi may mắn được nhận thẳng vào nhà hát lúc đó.
Trong thời gian công tác ở nhà hát, tôi dựng nhiều tác phẩm: kịch múa Thạch Sanh, Trừ Văn Thố, Tổ khúc trong tù, Quê hương, Vũ khúc Hung-ga-ri. Vừa làm biên đạo, tôi vừa tự đi học thêm múa dân gian, múa cổ điển Việt Nam vì hiểu rõ rằng không thể chỉ dựa vào múa cổ điển châu Âu mà làm được tác phẩm Việt Nam.

- Năm 1982, bà bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ nghệ thuật học tại Đại học Sân khấu Quốc gia Liên Xô và là người Việt đầu tiên đạt học vị này. Hành trình 3 năm nghiên cứu sinh như thế nào?
Nhà trường bên Nga không muốn tôi chỉ làm nghiên cứu sinh theo kiểu học lý luận thông thường - họ muốn người vừa giỏi chuyên môn, dạy được biên đạo, vừa có khả năng lý luận, nghiên cứu, viết luận án. Thế là tôi vừa trợ giảng thực hành biên đạo cùng các thầy, vừa tranh thủ vào thư viện đọc tài liệu và viết luận án - làm 2 việc song song trong 3 năm. Học xong buổi chiều là ăn vội mẩu bánh mì rồi vào thư viện đọc, viết luận án đến 11h đêm rồi một mình đi bộ về ký túc xá trong giá rét.
Luận án phải viết bằng tiếng Nga. Khi đó tiếng Nga của tôi đã khá tốt. Bộ Văn hóa từng cử tôi dạy tiếng Nga cho các giám đốc sở văn hóa Việt Nam đi học tại Moscow. Công trình nghiên cứu của tôi là Nền nghệ thuật múa Việt Nam - Nguồn gốc và sự phát triển đã được bảo vệ thành công vào năm 1982.
Giải thưởng Hồ Chí Minh và hành trình gần 100 tác phẩm
- Thơ múa "Nhớ về Đồng Lộc" được xem là một trong những tác phẩm tiêu biểu của bà khi có gần 30 năm trên sân khấu, được 4 nhà hát biểu diễn. Điều gì khiến bà mất đến hơn 10 năm mới quyết định dựng tác phẩm này?
Đề tài về những người thanh niên xung phong hy sinh vừa thiêng liêng vừa khó vô cùng, dễ bị khô và cứng. Phải nhiều lần đi thực tế ở Đồng Lộc cùng lãnh đạo tỉnh Nghệ An, đọc những tập thư từ tiền tuyến, đọc nhiều sách của các nhà văn viết về sự kiện này - mãi đến năm 1985 tôi mới dựng. Tôi quyết định đi theo hướng khai thác nội tâm của những người con gái thanh niên xung phong, kết hợp múa dân gian Việt Nam với kỹ thuật múa cổ điển châu Âu, tạo nên chất thơ trong từng động tác múa.
Hội diễn năm 1985 ở Hải Phòng, sau khi xem xong, khán giả khóc rất nhiều. Đó là điều tôi xúc động nhất vì đây là đề tài chiến đấu, vốn khó làm mà khán giả vẫn rung cảm sau khi tiết mục được trình diễn.




- Bà nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 2022 với cụm 3 tác phẩm "Hoa phong lan trên đỉnh Truông Bồn", "Xuân về trên bản Khơ Mú" và "Bức tranh thôn nữ". Cảm xúc của bà khi đón nhận giải thưởng đó?
Tôi mừng lắm bởi đó là sự phấn đấu của cả một cuộc đời. Điều hạnh phúc đặc biệt là hai tác phẩm về đề tài thanh niên xung phong - thơ múa Nhớ về Đồng Lộc dựng năm 1985 và Hoa phong lan trên đỉnh Truông Bồn dựng năm 1995 gần nhau về đề tài nhưng tôi đã tìm được cách thể hiện hoàn toàn khác nhau, không trùng lặp, không khô cứng. Ở Nhớ về Đồng Lộc, tôi tập trung vào nội tâm của những cô gái thanh niên xung phong, còn ở Hoa phong lan trên đỉnh Truông Bồn là sự đa dạng nhiều cung bậc, khi trữ tình khi mãnh liệt trong câu chuyện của các cô gái dẫn đường cho các chiến sĩ lái xe.
Mới đây thơ múa Hoa phong lan trên đỉnh Truông Bồn còn vinh dự được chọn là 1 trong 6 tác phẩm múa trong danh sách vinh danh 50 tác phẩm nghệ thuật Việt Nam tiêu biểu, xuất sắc sau ngày đất nước thống nhất (1975 - 2025) do Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch trao tặng.

- Bà đào tạo ra nhiều thế hệ học trò - trong đó có 9 NSND và hơn 30 NSƯT tính đến năm 2012. Điều bà tự hào nhất trong hành trình giảng dạy đó?
Học trò đáng tự hào thì rất nhiều: Nguyễn Ngọc Anh, Văn Quang, Tiến Định, Quỳnh Như, Hà Kim Chung, Ngọc Lan, Lữ Kiều Lê, Mai Trung Kiên, Thu Vân…

Tôi dạy 8 khóa đại học biên đạo múa, là môn chính từ năm thứ nhất tới năm cuối và dạy môn biên đạo múa cho 3 khóa đại học huấn luyện múa, trực tiếp hướng dẫn luận án tốt nghiệp. Mỗi năm thấy nhiều học trò của mình trưởng thành tôi cũng rất mừng.


Ngoài ra tôi còn viết cuốn Nghệ thuật biên đạo múa - được Giải A của Hội Nghệ thuật Biên đạo Múa Việt Nam - tác phẩm lý luận đầu tiên của ngành biên đạo múa chính quy tại Việt Nam. Tôi được phong Phó Giáo sư từ năm 1992.
Ảnh: NVCC
