Nhận chuyển nhượng đất nhưng không bàn giao mốc giới cụ thể

Theo trình bày của ông B. (ngụ tỉnh Vĩnh Phúc cũ, nay là tỉnh Phú Thọ), năm 2010, vợ chồng ông nhận chuyển nhượng thửa đất có diện tích 142,3m2, giá 1,5 tỷ đồng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hai người. 

Khi nhận chuyển nhượng thửa đất 142,3m2, ông B. cho rằng bên bán thông tin phần đất giáp ranh với nhà ông T. còn cách tường nhà hàng xóm 22cm. Tuy nhiên, phần đất này không được lập biên bản xác nhận ranh giới riêng, cũng không có sơ đồ thể hiện khoảng cách cụ thể.

Theo ông B., gia đình ông T. xây nhà vào năm 2012, thời điểm đó ông thường xuyên đi làm ăn nên không chú ý đến việc thi công. Trong khi đó, ông T. trình bày gia đình đã xây nhà mới từ năm 2010.

Đầu tháng 4/2017, sau khi phát sinh mâu thuẫn liên quan đến vị trí đồng hồ nước, ông B. tiến hành kiểm tra, đo đạc lại thửa đất và cho rằng diện tích thực tế bị thiếu 16,8m2 so với giấy chứng nhận. Lúc đó, ông B. mới biết ông T. xây nhà đã lấn sang đất nhà ông 22cm.

Sau đó, ông B. khởi kiện, yêu cầu ông T. trả lại phần đất 16,8m2 bị cho là lấn chiếm đất, đồng thời phá dỡ các công trình xây dựng trên diện tích này để khôi phục ranh giới giữa hai gia đình.

W-Vĩnh Phúc (20).JPG.jpg
Kiện hàng xóm đòi trả lại 16,8m2 đất vì cho rằng bị lấn chiếm, nhưng kết quả đo đạc thực tế lại cho thấy diện tích thửa đất của người khởi kiện lớn hơn diện tích ghi trong sổ đỏ. Ảnh minh họa: Hoàng Hà

Ở chiều ngược lại, ông T. khẳng định gia đình đã sử dụng thửa đất từ năm 1981, có nguồn gốc do mẹ ông cho, rộng 202,5m2.

Theo ông T., ranh giới giữa hai gia đình đã được xác định từ trước bằng bức tường do chủ sử dụng đất cũ xây dựng. Khi gia đình ông xây nhà, công trình nằm trong phạm vi đất của mình, không lấn sang đất nhà hàng xóm. Gia đình cũng đã xây tường khép kín bao quanh diện tích đất, ranh giới được xác định chính là bờ tường của ngôi nhà.

Đáng chú ý, người chuyển nhượng đất cho ông B. khai rằng việc mua bán năm 2010 có lập trích lục bản đồ địa chính và biên bản kiểm tra hiện trạng với chữ ký của các hộ giáp ranh.

Tuy nhiên, người này không nhớ rõ bức tường giáp đất nhà ông T. trước đây đã được xây hết ranh giới hay chưa, cũng không xác định được móng nhà tại vị trí này là móng cân hay móng lệch.

Xét xử sơ thẩm, TAND TP Phúc Yên (nay là TAND khu vực 8 - Phú Thọ) không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông B. về việc buộc gia đình ông T. trả lại 16,8m2 đất và tháo dỡ công trình xây dựng. Không đồng ý với phán quyết này, ông B. kháng cáo.

Diện tích đất thực tế của người khởi kiện lớn hơn sổ đỏ

Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử TAND tỉnh Vĩnh Phúc (nay là TAND tỉnh Phú Thọ) cho biết kết quả đo đạc thực tế ngày 16/11/2018 cho thấy thửa đất của ông B. có diện tích 142,9m2, tức nhiều hơn 0,6m2 so với diện tích 142,3m2 ghi trong giấy chứng nhận.

Trong khi đó, thửa đất của ông T. có diện tích thực tế 196,9m2, thiếu 5,6m2 so với diện tích 202,5m2 được cấp trong giấy chứng nhận.

Tòa phúc thẩm nhận định, khi nhận chuyển nhượng đất năm 2010, vợ chồng ông B. không trực tiếp đo đạc, không nhận bàn giao mốc giới cụ thể và cũng không cắm mốc ranh giới với hộ liền kề. Trên đất đã có căn nhà do chủ cũ xây dựng, với bức tường chạy dọc phần giáp đất nhà ông T.

Trong khi đó, nguồn gốc đất của ông T. có hồ sơ chứng minh là do mẹ đẻ tặng cho. Ngày 17/2/2009, gia đình ông T. đã lập biên bản họp gia đình về việc chia đất cho các con. Ông T. cũng có đơn xin cấp giấy chứng nhận từ ngày 2/11/2009 và lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vào ngày 31/12/2009, trước thời điểm ông B. nhận chuyển nhượng đất.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T. được cấp trong năm 2010. Do đó, lập luận của ông B. cho rằng hàng xóm làm lại giấy chứng nhận để hợp thức hóa phần đất lấn chiếm là không có căn cứ.

Theo Tòa phúc thẩm, trích lục bản đồ thể hiện kích thước thửa đất của ông B. không đủ cơ sở chứng minh hiện trạng ranh giới tại thời điểm chuyển nhượng, bởi các bên không tiến hành đo đạc, bàn giao mốc giới cụ thể.

Tòa cũng xem xét việc trước thời điểm chuyển nhượng, hai gia đình không có tranh chấp về ranh giới. Khi ông T. xây nhà, giữa hai bên không phát sinh tranh chấp và gia đình ông T. còn đưa thợ sang phần đất nhà ông B. để trát tường.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận định ông B. không có đủ căn cứ chứng minh ông T. lấn chiếm 16,8m2 đất như yêu cầu khởi kiện. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn cũng không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới.

Tòa phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông B., giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đồng thời, Hội đồng xét xử xác định ranh giới giữa hai thửa đất là đường thẳng nối từ điểm N đến điểm D theo sơ đồ trích đo hiện trạng kèm bản án. Các bên có quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo phán quyết của tòa.

(Tham khảo Bản án số 05/2024/DS-PT ngày 15/1/2024 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc, nay là TAND tỉnh Phú Thọ)