
VietNamNet giới thiệu bài viết có tiêu đề "Đổi mới tư duy xây dựng pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước" của Trung tướng Trần Đức Thuận, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội.
Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đổi mới tư duy xây dựng pháp luật đang trở thành một yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đặc biệt, sau khi Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 119-KL/TW, ngày 20/01/2025 về định hướng đổi mới, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật, ngày 30/4/2025, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Quốc hội thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, việc quán triệt đúng các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về công tác lập pháp có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay đang xuất hiện một số cách hiểu khác nhau, thậm chí chưa thật sự đầy đủ về quan điểm xây dựng luật. Có ý kiến cho rằng đổi mới tư duy lập pháp đồng nghĩa với việc xây dựng các đạo luật ngắn gọn tối đa, chỉ quy định những nguyên tắc chung, còn hầu hết nội dung giao Chính phủ hoặc các cơ quan khác quy định. Có ý kiến lại cho rằng cần đẩy mạnh mô hình “luật khung”, “luật ống” để tạo sự linh hoạt trong quản lý nhà nước.

Những nhận thức như vậy nếu không được phân tích, làm rõ thì rất dễ dẫn đến những cách tiếp cận chưa phù hợp trong quá trình xây dựng pháp luật, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động lập pháp cũng như hiệu lực, hiệu quả của hệ thống pháp luật. Vì vậy, cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn của quan điểm xây dựng pháp luật hiện nay cần được nhận thức đầy đủ để thống nhất trong nhận thức và hành động.
Luật là công cụ thực hiện quyền lập pháp của Quốc hội
Hiến pháp năm 2013 xác định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.
Quyền lập pháp không đơn thuần là quyền ban hành luật mà là quyền quyết định bằng luật những chính sách cơ bản, những vấn đề quan trọng liên quan đến tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, chế độ kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và các lĩnh vực trọng yếu khác của đời sống đất nước.
Chính vì vậy, luật phải là sự thể hiện trực tiếp ý chí của Quốc hội đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội. Nếu luật chỉ dừng lại ở những quy định mang tính khẩu hiệu hoặc chỉ nêu các nguyên tắc rất chung rồi giao phần lớn nội dung cho cơ quan hành pháp quy định thì sẽ làm giảm ý nghĩa của quyền lập pháp, đồng thời làm mờ ranh giới giữa hoạt động lập pháp và hoạt động lập quy.
Trong Nhà nước pháp quyền, cơ quan nào được Hiến pháp giao thẩm quyền thì phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm tương ứng với thẩm quyền đó. Quốc hội không thể chuyển giao trách nhiệm quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền lập pháp cho các cơ quan khác. Ngược lại, Quốc hội cũng không nên làm thay những công việc thuộc chức năng quản lý, điều hành của Chính phủ.
Đây chính là tinh thần cốt lõi cần được quán triệt khi nghiên cứu quan điểm “luật chỉ quy định những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội”.
Hiểu đúng quan điểm “luật chỉ quy định những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội”
Trong thời gian qua, cụm từ “luật chỉ quy định những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội” được nhắc đến nhiều trong các diễn đàn lập pháp. Tuy nhiên, đây là quan điểm thường bị hiểu chưa đầy đủ.

Có người cho rằng điều đó đồng nghĩa với việc luật phải được rút gọn tối đa, càng ít điều khoản càng tốt. Có người lại hiểu rằng luật chỉ nên quy định các nguyên tắc chung, còn các nội dung cụ thể giao Chính phủ quy định.
Thực chất, quan điểm này không mang ý nghĩa thu hẹp nội dung luật mà nhằm xác định rõ phạm vi quyền lập pháp của Quốc hội. Những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội thì phải được quy định trong luật một cách đầy đủ, rõ ràng, minh bạch và có khả năng áp dụng trực tiếp. Ngược lại, những vấn đề thuộc chức năng quản lý, điều hành, những nội dung mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ, những vấn đề thường xuyên thay đổi theo yêu cầu thực tiễn thì giao Chính phủ hoặc cơ quan có thẩm quyền quy định.
Như vậy, trọng tâm không nằm ở việc luật dài hay ngắn, nhiều điều hay ít điều mà nằm ở việc xác định đúng nội dung nào thuộc thẩm quyền của Quốc hội và nội dung nào thuộc trách nhiệm của cơ quan hành pháp. Nếu một vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội thì dù phức tạp đến đâu cũng phải được quy định trong luật. Ngược lại, nếu đó là vấn đề thuộc chức năng quản lý, điều hành thì không nhất thiết phải đưa vào luật. Đây là sự phân công hợp lý giữa lập pháp và hành pháp, hoàn toàn không phải là chủ trương xây dựng “luật khung”, “luật ống”.
Đảng ta không chủ trương xây dựng “luật khung”, “luật ống”
Nghị quyết số 27 của Ban chấp hành Trung ương về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã xác định nhiệm vụ hoàn thiện hệ thống pháp luật dân chủ, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, ổn định, khả thi, dễ tiếp cận và có sức cạnh tranh quốc tế. Mục tiêu mà Đảng đặt ra là nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật chứ không phải đơn thuần giảm dung lượng của luật.
Kết luận số 119 của Bộ Chính trị tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy xây dựng pháp luật; phân định rõ quy trình xây dựng chính sách với quy trình soạn thảo văn bản; phát huy vai trò của Chính phủ trong công tác xây dựng pháp luật; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực. Toàn bộ tinh thần của Kết luận số 119 hướng đến việc nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính khả thi của pháp luật, chứ không hề đặt ra chủ trương quay trở lại mô hình “luật khung”, “luật ống”.
Thực tiễn cho thấy, một trong những hạn chế của hoạt động lập pháp trong những giai đoạn trước đây chính là tình trạng giao quá nhiều nội dung cho văn bản dưới luật, dẫn đến việc luật chậm đi vào cuộc sống, làm phát sinh tình trạng “luật chờ nghị định”, “nghị định chờ thông tư”. Chủ trương hiện nay của Đảng là khắc phục những hạn chế đó, nâng cao chất lượng luật, tăng tính trực tiếp và khả năng áp dụng của luật, đồng thời phân định rõ trách nhiệm giữa Quốc hội và Chính phủ.
Do đó, nếu hiểu rằng đổi mới tư duy lập pháp là quay trở lại mô hình “luật khung”, “luật ống” thì rõ ràng chưa phản ánh đúng tinh thần chỉ đạo của Đảng.
Luật phải có tính nguyên tắc nhưng không thể chỉ có nguyên tắc
Một nhận thức khác cũng cần được làm rõ là quan điểm cho rằng luật hiện nay chỉ cần quy định những nguyên tắc chung.
Đúng là luật phải có tính nguyên tắc. Bất kỳ đạo luật nào cũng cần xác lập các nguyên tắc nền tảng để định hướng việc tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, luật không thể chỉ dừng lại ở các nguyên tắc. Một đạo luật muốn có khả năng áp dụng trong thực tiễn phải xác định được quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể; thẩm quyền của các cơ quan nhà nước; điều kiện, trình tự, thủ tục thực hiện; cơ chế bảo đảm thực hiện và trách nhiệm pháp lý khi vi phạm.
Nếu luật chỉ quy định nguyên tắc mà không quy định các nội dung cốt lõi thì sẽ không thể áp dụng trực tiếp, buộc phải chờ văn bản hướng dẫn, làm giảm hiệu lực của luật. Trong xây dựng Nhà nước pháp quyền, yêu cầu đặt ra là người dân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước có thể căn cứ vào luật để xác định quyền và nghĩa vụ của mình. Luật phải tạo được sự minh bạch, ổn định và khả năng dự báo. Một đạo luật tốt không phải là đạo luật ngắn nhất mà là đạo luật quy định đúng và đủ những nội dung thuộc phạm vi điều chỉnh của luật.
Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền nhưng không làm giảm vai trò của luật
Một trong những yêu cầu quan trọng hiện nay là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền. Tuy nhiên, phân cấp, phân quyền không đồng nghĩa với việc giảm vai trò của Quốc hội hoặc giảm vai trò của luật.
Ngược lại, muốn phân cấp, phân quyền hiệu quả thì luật phải quy định rõ phạm vi phân cấp, phân quyền; xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể; quy định cơ chế kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực.

Chỉ khi các vấn đề đó được quy định rõ trong luật thì việc phân cấp, phân quyền mới bảo đảm tính thống nhất của nền hành chính quốc gia, đồng thời phát huy được tính chủ động, sáng tạo của địa phương và các cơ quan thực thi. Nếu luật quy định quá chung chung thì rất dễ dẫn đến tình trạng mỗi nơi hiểu một cách, áp dụng một cách khác nhau, làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước.
Vì vậy, phân cấp, phân quyền càng mạnh thì càng đòi hỏi luật phải rõ ràng, minh bạch và xác định cụ thể trách nhiệm của từng chủ thể.
Hướng tới mô hình lập pháp hiện đại, thực chất và khả thi
Đổi mới tư duy lập pháp hiện nay thực chất là chuyển từ tư duy làm luật thiên về quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển; từ việc đưa mọi nội dung vào luật sang xác định đúng những nội dung cần được luật hóa; từ tình trạng chồng chéo về thẩm quyền sang phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan nhà nước.
Điều mà Đảng, Nhà nước và Quốc hội đang hướng tới không phải là những đạo luật ngắn hay dài, mà là những đạo luật thực chất, chất lượng cao, ổn định, minh bạch, dễ áp dụng và đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
Trong đó, Quốc hội tập trung quyết định các chính sách lớn, các vấn đề thuộc thẩm quyền lập pháp; Chính phủ chủ động trong tổ chức thực hiện và quy định các nội dung thuộc chức năng quản lý, điều hành; các cơ quan tư pháp bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm minh; người dân và doanh nghiệp được thụ hưởng một môi trường pháp lý ổn định, minh bạch và có thể dự báo.
Đó cũng là yêu cầu tất yếu của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Có thể khẳng định rằng, quan điểm xây dựng pháp luật hiện nay không phải là xây dựng “luật khung”, “luật ống”; cũng không phải là xây dựng các đạo luật chỉ gồm những nguyên tắc chung. Bản chất của đổi mới tư duy lập pháp là phân định rõ thẩm quyền giữa Quốc hội và Chính phủ; bảo đảm Quốc hội quyết định đầy đủ những vấn đề thuộc quyền lập pháp, đồng thời phát huy tính chủ động, linh hoạt của cơ quan hành pháp trong tổ chức thực hiện.
Luật phải quy định đúng, đủ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội; bảo đảm tính ổn định, minh bạch, khả thi và có thể áp dụng trực tiếp. Những nội dung thuộc chức năng quản lý, điều hành hoặc mang tính kỹ thuật, nghiệp vụ thì giao cơ quan có thẩm quyền quy định chi tiết.
Nhận thức đúng vấn đề này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.


