
GDP 6 tháng tăng 8,18%, xuất nhập khẩu đạt gần 550 tỷ USD
Tại họp báo công bố số liệu kinh tế - xã hội quý II/2026 sáng 3/7, bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho biết, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2026 ước tăng 8,39% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 6 tháng đầu năm, GDP tăng 8,18%, cao hơn mức tăng 7,63% của cùng kỳ năm 2025.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, đồng thời thị trường xuất khẩu nông sản được mở rộng. Trong đó, giá trị tăng thêm của ngành nông nghiệp tăng 3,57% so với cùng kỳ năm trước.
Ở khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp duy trì đà tăng trưởng tích cực nhờ các động lực tăng trưởng được củng cố, đơn hàng xuất khẩu phục hồi và hiệu ứng lan tỏa từ đầu tư công. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp tăng 9,86%, đóng góp 40,35% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế.
Khu vực dịch vụ cũng ghi nhận kết quả khả quan khi hoạt động thương mại, vận tải và du lịch tăng trưởng nhờ nhu cầu tiêu dùng cao, lưu thông hàng hóa và đi lại của người dân sôi động. Giá trị tăng thêm của khu vực dịch vụ tăng 8,09% so với cùng kỳ năm trước.

Cũng theo số liệu từ cơ quan thống kê, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa trong 6 tháng đầu năm đạt 549,69 tỷ USD, tăng 27,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu tăng 21%, nhập khẩu tăng 33,4%.
Tốc độ tăng nhập khẩu cao hơn xuất khẩu cho thấy nhu cầu đầu vào của nền kinh tế tiếp tục mở rộng, đồng thời phản ánh sự phục hồi mạnh của hoạt động sản xuất, đặc biệt tại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Do nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, cán cân thương mại ghi nhận nhập siêu 16,65 tỷ USD.
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 86,5 tỷ USD, trong khi Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất với kim ngạch 115,2 tỷ USD.
Bà Hương đánh giá, mức tăng trưởng 8,18% của kinh tế Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 là tích cực, tạo nền tảng quan trọng để phấn đấu hoàn thành các mục tiêu phát triển của cả năm.
Tuy nhiên, bà nhận định chặng đường phía trước vẫn còn nhiều thách thức. Là nền kinh tế có độ mở lớn, Việt Nam sẽ tiếp tục chịu tác động từ những biến động khó lường của kinh tế, chính trị thế giới, dịch bệnh và thiên tai. Vì vậy, mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, Chính phủ, cộng đồng doanh nghiệp, người dân cùng sự ủng hộ của bạn bè quốc tế.
Theo bà Hương, các bộ, ngành và địa phương cần chủ động cập nhật, dự báo tình hình để điều hành linh hoạt, kịp thời ứng phó với các biến động phát sinh; kiên định mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội và đời sống người dân.
Đồng thời, cần giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế, theo dõi sát diễn biến kinh tế, chính trị thế giới để kịp thời cập nhật kịch bản tăng trưởng, lạm phát; điều hành giá xăng dầu linh hoạt và tránh điều chỉnh đồng thời các mặt hàng do Nhà nước quản lý nhằm giảm áp lực lạm phát.
CPI bình quân tăng 4,38%, lạm phát cơ bản ở mức 4,12%
Cục Thống kê cho biết, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân quý II/2026 tăng 5,25% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, CPI tăng 4,38%.
Theo cơ quan thống kê, CPI tăng chủ yếu do nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,79%, nhóm nhà ở - điện nước - vật liệu xây dựng tăng 6,72%, tác động làm CPI chung tăng 1,53 điểm phần trăm.
Nhóm giao thông tăng 5,23%, làm CPI chung tăng 0,52 điểm phần trăm; trong đó giá nhiên liệu tăng 8,9%.
Bên cạnh đó, chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 3,3% do một số trường dân lập, tư thục và cơ sở dạy nghề điều chỉnh học phí trong năm học 2025-2026.
Chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,63%. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,4%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,96%. Trong khi đó, nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 3,52%m.
Bình quân sáu tháng đầu năm 2026, lạm phát cơ bản tăng 4,12%, thấp hơn mức tăng 4,38% của CPI bình quân chung. Nguyên nhân chủ yếu là giá xăng dầu, gas và thực phẩm biến động mạnh làm CPI chung tăng nhưng thuộc nhóm hàng được loại trừ khi tính lạm phát cơ bản.
Đối với các chỉ số giá khác, chỉ số giá vàng bình quân quý II tăng 36,84% so với cùng kỳ năm trước và bình quân 6 tháng đầu năm tăng 58,12%.
Trong khi đó, chỉ số giá đô la Mỹ bình quân quý II tăng 0,93% và bình quân 6 tháng đầu năm tăng 1,75%.
