
Mới đây, thảo luận tại tổ về kinh tế - xã hội, đại biểu chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội Nguyễn Thị Mai Thoa bày tỏ lo ngại tình trạng trẻ em bị xâm hại trên không gian mạng với nhiều hình thức tinh vi như bắt cóc online, bạo lực, bắt nạt qua mạng.
Đại biểu cho rằng không phải phụ huynh nào cũng có đủ thời gian theo dõi việc con sử dụng mạng xã hội, trong khi trẻ em chưa hoàn thiện nhận thức, dễ bị lôi kéo tiếp cận nội dung không phù hợp. Bà đề nghị nghiên cứu giải pháp hạn chế hoặc cấm trẻ em sử dụng một số nền tảng mạng xã hội phổ biến, kèm theo các điều kiện và giải pháp cụ thể.
Băn khoăn khi việc học của con lại gắn với các nền tảng mạng xã hội
Chị Nguyễn Thu Huyền (Hà Nội) ủng hộ đề xuất phải có biện pháp nhằm hạn chế trẻ em sử dụng mạng xã hội. Thực tế, cậu con trai lớp 5 của chị bị “cuốn” vào xem video, lướt mạng, ảnh hưởng đến việc học tập và nghỉ ngơi.
Nhưng phụ huynh này cũng bày tỏ băn khoăn khi việc học của con lại gắn với các nền tảng mạng xã hội như giáo viên giao bài qua nhóm Facebook, Zalo, học sinh theo dõi video giảng dạy online của thầy cô, làm bài tập nhóm qua các ứng dụng nhắn tin hay tìm kiếm tài liệu.
“Nếu không giao máy tính, điện thoại cho con cũng rất khó vì sẽ ảnh hưởng đến việc học. Nhưng bố mẹ bận rộn cả ngày, không thể ngồi kèm liên tục xem con dùng điện thoại ra sao”, chị chia sẻ.
Phụ huynh này mong muốn có một giải pháp giúp cha mẹ kiểm soát nội dung con tiếp cận, đồng thời nhà trường cần có một nền tảng riêng để giao bài tập thay vì sử dụng mạng xã hội.

PGS.TS Phạm Mạnh Hà, chuyên gia tâm lý, Khoa khoa học và công nghệ giáo dục, Đại học Bách Khoa Hà Nội cho rằng đề xuất cấm hoặc hạn chế trẻ em sử dụng mạng xã hội xuất phát từ lo lắng chính đáng, nhưng chưa phải giải pháp đúng trọng tâm.
Theo ông Hà, mạng xã hội dễ khiến người dùng rơi vào vòng lặp “nghiện tương tác”, bởi mỗi lượt “like”, lượt thông báo đều là một “liều dopamine nhỏ”. Vì thế, “cấm” không phải là cách tiếp cận hiệu quả.
“Thực tế giáo dục cho thấy, những gì bị cấm tuyệt đối mà không đi kèm giải thích thường trở nên hấp dẫn hơn, dẫn đến việc trẻ tiếp cận một cách lén lút và thiếu kỹ năng tự bảo vệ”, ông Hà nói.
Ông Hà nhấn mạnh đây là vấn đề cấp thiết nhưng cần hành động đúng. Hiện nay, mạng xã hội đã gắn chặt với hệ sinh thái dạy và học. Do đó, việc cấm cứng nhắc có thể làm gia tăng bất bình đẳng tiếp cận, chẳng hạn học sinh có điều kiện sẽ tìm được thiết bị thay thế, còn học sinh khó khăn hơn sẽ bị loại khỏi luồng thông tin học tập.
Ngoài ra, điều này còn đẩy trách nhiệm kiểm soát về phía gia đình, trong khi thiếu công cụ hỗ trợ, đồng thời làm mất cơ hội trang bị năng lực công dân số cho học sinh trong bối cảnh chuyển đổi số.
Vào thời điểm nào, với mục đích gì và ai giám sát?
Theo PGS.TS Phạm Mạnh Hà, bài toán lúc này không phải là “cấm hay không cấm” mạng xã hội mà là sử dụng ra sao, vào thời điểm nào, với mục đích gì và ai giám sát. Thay vì “bảo vệ bằng rào cản”, cần chuyển sang mô hình “bảo vệ có năng lực”, tức là trang bị cho trẻ khả năng tự điều chỉnh.
Cách tiếp cận này cần triển khai đồng thời ở ba cấp độ. Với gia đình, cha mẹ cần chuyển từ kiểm soát sang đồng hành, cùng con tìm hiểu và trao đổi về nội dung trẻ tiếp cận. Thậm chí, cha mẹ có thể xây dựng “quy tắc số” trong gia đình với sự tham gia của trẻ thay vì áp đặt, về thời gian, không gian và mục đích sử dụng, đồng thời thiết lập các khung giờ “không màn hình” như trước khi ngủ, trong bữa ăn, đầu giờ sáng.
Với nhà trường, cần tích hợp giáo dục kỹ năng số thực chất. Đó không phải là một tiết học về “tác hại của internet” mà cần giúp học sinh thực hành nhận diện tin giả, quản lý cảm xúc khi bị bình luận tiêu cực và thiết lập giới hạn thời gian sử dụng. Ngoài ra, cần tăng cường phát hiện sớm, can thiệp tâm lý học đường đối với những trường hợp có dấu hiệu nghiện mạng xã hội hoặc là nạn nhân của bắt nạt trực tuyến.
Ở cấp chính sách, thay vì cấm người dùng nhỏ tuổi, cần quy định trách nhiệm của các nền tảng trong việc tạo môi trường an toàn, như phải có chế độ tài khoản dành cho tuổi vị thành niên với giới hạn tính năng, không hiển thị quảng cáo, không có thuật toán gây nghiện.

Đồng quan điểm, bà Lê Thị Thu Hà, Giám đốc Trung tâm Trẻ em và Phát triển (CCD), Hội Bảo vệ Quyền trẻ em Việt Nam, cho rằng việc tạo dựng một môi trường mạng an toàn là trách nhiệm của nhiều bên, thay vì tách trẻ khỏi không gian số.
“Trong bối cảnh chúng ta đang hướng tới mục tiêu đào tạo công dân số và công dân toàn cầu, việc tách trẻ khỏi các phương tiện giao tiếp trực tuyến là không khả thi. Thay vào đó, gia đình và nhà trường cần phối hợp xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên không gian mạng, dựa trên sự lắng nghe và có sự đồng thuận từ chính trẻ em”, bà Hà nói.
Đặc biệt, bà Lê Thị Thu Hà nhấn mạnh giải pháp cần đi từ cả hai phía. Nhà nước và các tổ chức cần thúc đẩy phát triển những không gian số riêng, an toàn và lành mạnh, phục vụ học tập, giải trí cho trẻ; đồng thời phối hợp với các nhà mạng và nền tảng công nghệ để định danh tài khoản nghiêm ngặt đối với người dưới 16 tuổi. Việc này sẽ giúp tự động lọc bỏ các nội dung độc hại và áp dụng các biện pháp kỹ thuật để giới hạn thời gian sử dụng một cách khoa học, hiệu quả.
