Đưa hạ tầng số đến từng thôn, bản

Trong tiến trình xây dựng nông thôn mới, nếu đường giao thông, điện, trường học là những điều kiện thiết yếu để nâng cao chất lượng cuộc sống, thì hạ tầng viễn thông và Internet đang ngày càng trở thành nền tảng quan trọng để người dân tiếp cận thông tin, tri thức và các dịch vụ hiện đại. Bước sang giai đoạn 2026–2030, yêu cầu phát triển hạ tầng số được cụ thể hóa bằng những tiêu chí rõ ràng, hướng tới thu hẹp khoảng cách tiếp cận thông tin giữa các vùng miền.

Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Hướng dẫn số 3781/HD-BKHCN về thực hiện một số nội dung tiêu chí, điều kiện thuộc Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026–2030 trong phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.

W-20260901_083205.jpg
Đến năm 2030, tất cả các thôn trên địa bàn các xã phải có khả năng tiếp cận và sử dụng ít nhất một loại dịch vụ điện thoại.

Theo hướng dẫn, đến năm 2030, tất cả các thôn trên địa bàn xã phải có khả năng tiếp cận và sử dụng ít nhất một loại dịch vụ điện thoại và một loại dịch vụ truy nhập Internet. Đồng thời, các dịch vụ viễn thông, Internet cung cấp tại địa phương phải đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành.

Quy định này không chỉ đặt ra yêu cầu hoàn thiện hạ tầng viễn thông mà còn hướng đến bảo đảm cơ hội tiếp cận thông tin cho người dân, đặc biệt tại những địa bàn còn nhiều khó khăn.

Khi kết nối Internet được mở rộng đến các thôn, bản, người dân có thêm điều kiện cập nhật chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tiếp cận kiến thức sản xuất, khoa học kỹ thuật, thông tin thị trường, giáo dục, y tế và dịch vụ công trực tuyến. Với người nông dân, Internet có thể trở thành công cụ tìm kiếm đầu ra cho nông sản, học hỏi phương thức canh tác mới và từng bước tham gia thương mại điện tử.

Đối với vùng miền núi, biên giới và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, những lợi ích này càng có ý nghĩa khi điều kiện địa lý cách trở từng là rào cản lớn trong tiếp cận thông tin. Hạ tầng số được đầu tư đồng bộ sẽ góp phần rút ngắn khoảng cách phát triển, tạo thêm cơ hội cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Đáng chú ý, hướng dẫn mới còn xác định vai trò của điểm phục vụ bưu chính công cộng trong hỗ trợ người dân tiếp cận chính quyền số. Theo đó, mỗi xã phải có ít nhất một điểm cung cấp dịch vụ bưu chính thuộc mạng bưu chính công cộng, có khả năng hỗ trợ thực hiện dịch vụ công trực tuyến.

Các điểm phục vụ này cần được trang bị máy tính, máy tính bảng hoặc thiết bị đầu cuối tương đương, kết nối Internet băng rộng, thiết bị quét tài liệu và các điều kiện bảo đảm an toàn thông tin.

Đối với người cao tuổi, người ít sử dụng công nghệ hoặc những hộ gia đình chưa có đủ điều kiện tiếp cận thiết bị số, đây có thể trở thành những “cầu nối số” thiết thực, giúp họ từng bước làm quen với các nền tảng trực tuyến, tiếp cận dịch vụ công thuận tiện hơn.

Cùng với đó, Bộ Khoa học và Công nghệ đưa ra những yêu cầu cụ thể đối với mô hình thôn thông minh tại các xã nhóm 1 và nhóm 2. Đến năm 2030, 100% hộ gia đình trong thôn phải có khả năng tiếp cận cáp quang khi có nhu cầu; 90% người sử dụng Internet cố định được truy cập dịch vụ với tốc độ trung bình tối thiểu 200 Mb/s; mạng băng rộng di động 5G phủ sóng tới 99% dân số và tỷ lệ thuê bao sử dụng điện thoại thông minh đạt ít nhất 90%.

Mỗi thôn thông minh còn phải có điểm truy cập số cộng đồng tại nhà văn hóa hoặc điểm sinh hoạt chung được kết nối Internet cáp quang băng rộng. Đồng thời, tổ công nghệ số cộng đồng được thành lập và hoạt động tập huấn kỹ năng số cho người dân được tổ chức ít nhất một lần mỗi năm.

Những yêu cầu này cho thấy cách tiếp cận mới trong xây dựng nông thôn hiện đại: Không chỉ đưa hạ tầng đến gần người dân mà còn tạo điều kiện để họ thực sự sử dụng và hưởng lợi từ công nghệ.

Thu hẹp khoảng cách thông tin vùng dân tộc thiểu số và miền núi

Thực tiễn tại Tuyên Quang cho thấy, giảm nghèo thông tin cần được triển khai đồng thời trên cả hai phương diện: mở rộng hạ tầng kết nối và nâng cao kỹ năng số cho người dân.

Sau khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, Tuyên Quang có địa bàn rộng, nhiều khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện phát triển hạ tầng viễn thông còn gặp không ít khó khăn.

Theo Cổng thông tin điện tử tỉnh Tuyên Quang, tính đến đầu năm 2026, toàn tỉnh có 3.107 vị trí trạm thu phát sóng di động (BTS), trong đó có 593 trạm 5G. Tuy nhiên, vẫn còn 272 thôn, bản có tình trạng lõm sóng, trong đó 91 thôn chưa có sóng di động.

Những con số này phản ánh khoảng cách giữa yêu cầu phát triển hạ tầng số và điều kiện thực tế tại cơ sở. Đối với các thôn, bản chưa có sóng di động, việc tiếp cận thông tin, sử dụng dịch vụ công trực tuyến hay ứng dụng công nghệ vào sản xuất, kinh doanh vẫn gặp nhiều trở ngại.

Vì vậy, mục tiêu bảo đảm tất cả các thôn có khả năng tiếp cận dịch vụ điện thoại và Internet vào năm 2030 không đơn thuần là hoàn thành một chỉ tiêu kỹ thuật, mà còn gắn trực tiếp với việc mở rộng cơ hội phát triển cho người dân vùng khó khăn.

Cùng với đầu tư hạ tầng, Tuyên Quang đang chú trọng đưa kỹ năng số đến tận cơ sở thông qua hoạt động của các tổ công nghệ số cộng đồng.

Đến ngày 13/6/2026, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh đã hoàn thành 22 lớp tập huấn tại 53 xã, phường, thu hút 2.833 thành viên tổ công nghệ số cộng đồng tham gia.

Nội dung tập huấn tập trung vào hướng dẫn sử dụng dịch vụ công trực tuyến, các nền tảng số thiết yếu và ứng dụng công nghệ trong đời sống hằng ngày. Đây là lực lượng có vai trò hỗ trợ trực tiếp, giúp người dân từng bước vượt qua rào cản về kỹ năng khi tiếp cận môi trường số.

Theo thông tin công bố ngày 6/8/2026, gần 4.700 lượt cán bộ và thành viên tổ công nghệ số cộng đồng trên địa bàn tỉnh đã được tập huấn, nâng cao kỹ năng. Cùng thời điểm, hạ tầng viễn thông tiếp tục được mở rộng với gần 600 trạm phát sóng 5G, khoảng 96% dân số có khả năng tiếp cận Internet tốc độ cao.

Những kết quả bước đầu cho thấy, khi phát triển hạ tầng được kết hợp với đào tạo kỹ năng, chuyển đổi số có điều kiện đi sâu hơn vào đời sống, thay vì chỉ dừng lại ở việc mở rộng vùng phủ sóng.

Tuy nhiên, thực tế vẫn còn những thôn, bản chưa có sóng di động cho thấy nhiệm vụ phía trước không hề nhỏ. Bên cạnh nguồn lực đầu tư cho các địa bàn khó khăn, cần quan tâm đến khả năng chi trả dịch vụ, điều kiện sở hữu thiết bị thông minh và năng lực sử dụng công nghệ của từng nhóm dân cư.

Đặc biệt, với người nghèo, người cao tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số, việc hỗ trợ cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu, điều kiện thực tế và khả năng tiếp nhận của người dân. Các điểm truy cập số cộng đồng, tổ công nghệ số cộng đồng và hoạt động hướng dẫn trực tiếp tại cơ sở vì thế có vai trò quan trọng.

Giảm nghèo thông tin không chỉ được đo bằng số lượng trạm phát sóng, tỷ lệ phủ Internet hay số thiết bị thông minh. Giá trị thực chất phải được thể hiện ở khả năng người dân sử dụng thông tin để nâng cao nhận thức, cải thiện sinh kế, tiếp cận chính sách và các dịch vụ thiết yếu.

Từ những quy định mới trong Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới giai đoạn 2026–2030 đến thực tiễn triển khai tại Tuyên Quang, có thể thấy phát triển hạ tầng số đang trở thành một hướng đi quan trọng trong giảm nghèo đa chiều.

Khi mỗi thôn, bản được kết nối, mỗi người dân có thêm kỹ năng tiếp cận và sử dụng công nghệ, khoảng cách thông tin giữa các vùng miền sẽ từng bước được thu hẹp. Đó cũng là nền tảng để chuyển đổi số thực sự phục vụ người dân, góp phần xây dựng nông thôn mới hiện đại, bao trùm và phát triển bền vững.