Làn sóng văn hóa Hàn Quốc (Hallyu) đã mang lại cho đất nước của những buổi sáng thanh bình không chỉ các lợi ích kinh tế mà còn cả vị thế xã hội trên trường quốc tế và niềm tự hào vô bờ bến cho mỗi người dân.

Không có cây đũa thần nào cho những kì tích ấy, mà đó là kết quả của sự kết hợp từ góc độ chiến lược giữa 3 thành tố: Nhà nước, các công ty và người làm trong lĩnh vực văn hóa.

Những thành tựu văn hóa Hàn Quốc

Mùa Oscar 2026, khi bộ phim Kpop Demon Hunters được xướng danh trong 2 hạng mục danh giá: Phim hoạt hình xuất sắc nhất và ca khúc gốc xuất sắc nhất, đó không chỉ là hạnh phúc và vinh dự của một nhóm người mà của cả một quốc gia. Thành công của Hàn quốc thậm chí còn mang lại niềm tin cho những người làm văn hóa đến từ những vùng đất phi Anh ngữ.

Hàn Quốc đã ghi danh mình vào danh sách các cường quốc Điện ảnh chỉ sau 3 thập kỷ với những bộ phim như Ký sinh trùng (Parasite), Chuyến tàu băng giá (Snowpiercer), Squid Game.

South Korea.jpeg
Làn sóng văn hóa Hàn Quốc (Hallyu) đã mang lại cho đất nước này không chỉ các lợi ích kinh tế mà còn cả vị thế xã hội trên trường quốc tế và niềm tự hào cho mỗi người dân

Ngày nay trong lĩnh vực nào của công nghiệp văn hóa đều có thể tìm thấy những thành công của Hàn Quốc ở đẳng cấp thế giới. Âm nhạc Hàn Quốc có những nhóm nhạc có thể “gây bão” ở bất kì đâu trên thế giới như BTS (Liveshow thu hút hơn 100,000 khán giả trực tiếp và 18,4 triệu người xem trực tuyến); Blackpink (Nhóm nhạc nữ sở hữu kênh YouTube có lượt đăng ký lớn nhất thế giới); Webtoons: Naver và Kakao đang thống trị thị trường truyện tranh số toàn cầu, tạo ra nguồn kịch bản khổng lồ cho điện ảnh. Hàn Quốc là “thánh địa” của trò chơi điện tử Esports với huyền thoại Faker (T1) – người được ví như Michael Jordan của giới game.

Văn học cũng chứng kiến thành công vượt trội của nữ văn sỹ Han Kang khi bà được trao giải Nobel văn học 2024. Hàn Quốc cho thấy, họ không chỉ xuất khẩu văn hóa bằng phim ảnh và nhạc pop mà còn bằng văn học tinh hoa.

Thế giới phải thừa nhận quyền lực mềm của Hàn Quốc khi các sản phẩm văn hóa của nước này đã làm tăng cảm tình của người dân ở nhiều nước trên thế giới với Hàn Quốc và đi xa hơn là tiêu thụ sản phẩm văn hóa, sản phẩm Made in Korea và mong muốn khám phá đất nước này nhiều hơn nữa.

12 yếu tố thành công của làn sóng Hallyu

Thứ nhất, đào tạo nghệ sỹ là thành tố đầu tiên, mang tính then chốt trong thành công của Hallyu. Hàn Quốc không chỉ tuyển chọn tài năng mà công nghiệp hóa quá trình hình thành nghệ sĩ. Với điện ảnh, KOFIC vận hành KAFA – Korean Academy of Film Arts, đào tạo các mảng như đạo diễn, sản xuất, quay phim, biên kịch và hoạt hình.

Thứ hai, đào tạo khán giả. Người diễn phải có người xem. Người ta sẽ xem nhiều khi hiểu, khi thích. Hàn Quốc đã cải cách hệ thống đào tạo nghệ thuật để mở rộng từ đào tạo tinh hoa sang giáo dục nghệ thuật toàn xã hội. Cơ quan KACES hỗ trợ hoạt động giáo dục nghệ thuật ở khoảng 8.500 trường phổ thông tại 17 tỉnh/thành giúp người dân tiếp cận giáo dục nghệ thuật chất lượng cao trong mọi giai đoạn cuộc đời đồng thời đào tạo cũng là để đào tạo công chúng tương lai.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc cũng tăng các công cụ giúp công chúng thực sự tiêu dùng văn hóa, ví dụ như hỗ trợ người thu nhập thấp, người trẻ đi xem phim, biểu diễn, triển lãm…

Thứ ba, đào tạo đội ngũ sáng tác, sản xuất. Phim hay, kịch hay, game hay đều cần phải có biên kịch hoặc nhà sáng tác nội dung giỏi. Trong điện ảnh, KOFIC có các “vườn ươm biên kịch” mở rộng điều kiện để những người đã có kinh nghiệm đạo diễn hoặc trợ lý đạo diễn có thể chuyển sang biên kịch.

Thứ tư, thay đổi tư duy và hệ thống đào tạo nghệ thuật. Hàn Quốc đã chuyển dịch từ đào tạo nghệ thuật “vị nghệ thuật” sang nghệ thuật “vị nhân sinh và vị kinh tế”. Chiến lược Global-first: Các sản phẩm hiện nay được thiết kế cho thị trường toàn cầu ngay từ khâu ý tưởng.

Thứ năm, đầu tư vào cơ sở vật chất. Chính phủ hợp tác với các đại doanh nhân, tập đoàn lớn xây dựng cơ sở vật chất đào tạo, phân phối, thưởng thức nghệ thuật như nhà hát, rạp chiếu phim, tổ hợp văn hóa. Sự phát triển của hợp tác công tư đã mang lại sức mạnh lớn để Hàn Quốc có nguồn lực phát triển công nghiệp văn hóa.

Thứ sáu, đầu tư tài chính. Phải kể đến các nỗ lực kêu gọi đầu tư từ phía các đại doanh nhân, quỹ đầu tư, quỹ đầu tư mạo hiểm, ngân hàng. Hàn Quốc cũng xúc tiến các sáng kiến để thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghiệp văn hóa.  Chính phủ rót vốn thông qua KVIC vào các quỹ đầu tư tư nhân chuyên biệt cho nội dung văn hóa. Nhiều ngân hàng có bộ phận thẩm định tín dụng riêng cho các dự án điện ảnh/âm nhạc, coi sở hữu trí tuệ (IP) là tài sản thế chấp.

Thứ bảy, phối hợp quảng bá văn hóa. Việc quảng bá văn hóa không chỉ là việc của một công ty tư nhân hay của một bộ ban ngành mà làm việc của mọi cơ quan liên quan. Một đoàn blogger thăm Hàn Quốc có thể được tiếp đón bởi các cơ quan ngoại giao của chính phủ, của vùng, lãnh đạo vùng, các cơ quan phát triển văn hóa có liên quan của quốc gia, Tổng cục du lịch, Trung tâm văn hóa Hàn Quốc nơi đoàn blogger đó xuất phát….

Thứ tám, phát triển các chuyên gia trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa. Họ có thể là chuyên gia thẩm định giá trị sản phẩm văn hóa, thẩm định tác phẩm nghệ thuật, thẩm định đồ cổ… để đảm bảo tính xác thực.

Thứ chín, đầu tư vào ngành công nghiệp phụ trợ và logistic. Hàn Quốc đầu tư cho các công nghệ cần thiết cho phát triển điện ảnh cho nội dung toàn cầu như VFX, hình ảnh ảo, âm thanh, ánh sáng, hợp đồng, truyền thông, quảng cáo, marketing, nghiên cứu thị trường quốc tế, bán hàng ở nước ngoài cho doanh nghiệp nội dung xuất khẩu; đăng ký và bảo vệ bản quyền ở nước ngoài; bán kịch bản, tìm kiếm đồng sản xuất.

Thứ mười, tối ưu hóa quản trị tài sản trí tuệ. Người ta không chỉ bán phim, họ bán "vũ trụ nội dung". Một bộ webtoon thành công sẽ được chuyển thể thành phim, sau đó là game, rồi đến các vật phẩm (merchandise) hoặc biến thành một theme park (công viên chủ đề).

Mười một là, chính sách bảo vệ bản quyền mạnh mẽ không chỉ bảo vệ nguồn thu nhập cho nghệ sĩ mà còn buộc ngành công nghiệp âm nhạc chuyển đổi sang nền kinh tế nhạc số hợp pháp. Chính phủ cũng củng cố nguồn thu cho ngành công nghiệp âm nhạc bằng cách thu tiền bản quyền từ các phòng karaoke (trả tiền bản quyền cho mọi bài hát khi có người hát).

Năm 2009, Hàn Quốc ban hành một đạo luật chống khắt khe vi phạm bản quyền trên Internet. Hành động bài trừ quyết liệt nạn tải nhạc lậu tạo cơ hội cho các trang web tải và phát nhạc trực tuyến hợp pháp nở rộ, củng cố nguồn thu vững chắc cho ngành công nghiệp K-pop.

Cuối cùng, chuyển đổi số & AI trong sáng tạo. Hàn Quốc đang dẫn đầu trong việc dùng AI để dự báo thị hiếu khán giả để quyết định ngân sách sản xuất. Sử dụng "Ca sĩ ảo" (Virtual Idol). AI hỗ trợ dịch thuật đa ngôn ngữ theo thời gian thực để xóa bỏ rào cản ngôn ngữ cho K-Content.

Thành công của công nghiệp văn hóa Hàn Quốc đến từ việc họ xây được chuỗi giá trị hoàn chỉnh và khép kín. Thành công này có thể tạo cảm hứng và là mở ra các cơ hội thảo luận, hợp tác trao đổi để có thể học hỏi từ những bước làm cụ thể của đất nước Hàn Quốc.