
Có người cho rằng cơ quan chức năng làm đúng bởi hàng hóa lưu thông trên thị trường thì phải có nguồn gốc, giấy tờ để kiểm soát chất lượng, chống hàng giả, hàng kém chất lượng và gian lận thương mại.
Nhưng cũng có rất nhiều người đặt một câu hỏi khác: một người dân đi nhặt xác ve trong rừng thì lấy đâu ra hóa đơn?
Và từ đây, câu chuyện không còn nằm ở mấy bao ve sầu nữa.
Nó gợi ra một cảm giác mà nhiều người đang có trong đời sống hiện nay: khoảng cách giữa cách bộ máy quản lý vận hành với cách người dân thực sự kiếm sống.
Bởi nếu đọc kỹ các bài báo gần đây về “cơn sốt ve sầu” ở Tây Nguyên và miền núi phía Bắc, người ta sẽ thấy phía sau những bao tải xác ve ấy không phải hình ảnh của những doanh nghiệp chuyên nghiệp hay các đầu nậu lớn như nhiều người hình dung.
Đó là những người dân vùng sâu vùng xa đội đèn pin đi trong rừng lúc nửa đêm để nhặt xác ve sầu bám trên gốc cây, bụi cỏ. Trong số họ có phụ nữ, người già, thậm chí cả trẻ con theo cha mẹ vào rừng. Có người bị rắn độc cắn. Có người đi cả đêm chỉ được vài lạng xác ve khô.

Một đứa trẻ ở Tây Nguyên phải mất hai ngày mới gom được khoảng 1kg xác ve để bán. Một phụ nữ ở Gia Lai kể rằng bà đi từ tối tới gần sáng, hôm nào may mắn thì kiếm được vài trăm nghìn đồng, đủ mua gạo cho cả nhà vài ngày. Hết mùa ve, họ lại quay về nương rẫy và những công việc làm thuê bấp bênh như trước.
Với nhiều gia đình đồng bào dân tộc thiểu số, đây không phải một “ngành kinh doanh” theo nghĩa thông thường, càng không phải con đường làm giàu. Nó chỉ đơn giản là một khoản thu nhập theo mùa vụ để cuộc sống đỡ chật vật hơn một chút.
Và chính từ những câu chuyện rất đời ấy, vụ 80kg xác ve ở Lạng Sơn mới gây tranh cãi mạnh như vậy.
Ở góc độ quản lý nhà nước, việc cơ quan chức năng yêu cầu hàng hóa lưu thông phải có nguồn gốc là điều dễ hiểu, nhất là trong bối cảnh xã hội ngày càng lo ngại về thực phẩm bẩn, dược liệu không rõ xuất xứ và gian lận thương mại.
Những năm gần đây, chuyện hóa đơn, truy xuất nguồn gốc, kê khai ngày càng được siết chặt. Điều đó không sai. Nhưng xã hội thực tế lại vẫn đầy những giao dịch rất nhỏ, rất thủ công ở nông thôn hay vùng sâu, vùng xa.
Một người dân tộc thiểu số đi nhặt xác ve giữa rừng gần như không thể có hóa đơn VAT. Với họ, chuyện hóa đơn đôi khi còn xa lạ như một thứ ngôn ngữ khác. Một thương lái gom hàng từ hàng trăm hộ dân miền núi cũng rất khó có đủ giấy tờ như một công ty lớn.
Có lẽ vì thế mà sau phản ứng xã hội, lực lượng quản lý thị trường cũng phải giải thích rằng “hóa đơn chứng từ” ở đây có thể được hiểu linh hoạt hơn, từ bảng kê thu mua, giấy mua bán viết tay cho tới xác nhận địa phương.
Chi tiết ấy thực ra rất đáng suy nghĩ.
Ban đầu là yêu cầu “phải có hóa đơn chứng từ”, nhưng rồi cuối cùng chính cơ quan chức năng cũng phải quay lại xác minh chữ ký người dân, bảng kê thu mua và xác nhận địa phương. Điều đó cho thấy ngay cả bộ máy quản lý cũng hiểu rằng nếu áp cứng logic doanh nghiệp vào chuỗi hàng hóa kiểu này thì gần như không ai có thể đáp ứng nổi.
Nói cho cùng, đời sống thực tế lúc nào cũng phức tạp hơn quy định trên giấy.
Việt Nam đang siết truy xuất nguồn gốc, số hóa quản lý và minh bạch hóa thị trường. Đó là xu hướng cần thiết. Nhưng cùng lúc, đây vẫn là một xã hội mà hàng chục triệu người đang sống bằng kinh tế hộ, giao dịch tiền mặt, những chuỗi thu gom nhỏ lẻ và các kiểu mưu sinh rất nông thôn, rất miền núi.
Một người đi nhặt xác ve giữa rừng chắc cũng khó hình dung có ngày mình bước vào vùng tranh luận về hóa đơn chứng từ và truy xuất nguồn gốc.
Vì thế, điều nhiều người lo trong vụ “ve sầu” không hẳn là chuyện vài bao hàng bị kiểm tra, mà là cảm giác người dân bình thường ngày càng khó sống mà không vướng vào một loại giấy tờ nào đó.
Điều đáng chú ý là ngay cả chính quyền địa phương cũng không nhìn người dân như những người vi phạm pháp luật. Một cán bộ kiểm lâm còn cho biết, hiện không có quy định cấm người dân vào rừng nhặt xác ve.
Có lẽ chính từ đây mới xuất hiện câu hỏi quan trọng nhất: không thể quản tất cả theo cùng một cách.
Một doanh nghiệp lớn rõ ràng phải khác với một hộ dân miền núi bán vài bao dược liệu theo mùa vụ. Những hoạt động dân sinh quy mô nhỏ có lẽ cần những cách quan sát thực tế hơn, thủ tục đơn giản hơn và một lộ trình phù hợp hơn để người dân từng bước làm ăn bài bản hơn.
Bởi khi một người dân miền núi đi nhặt xác ve cũng phải băn khoăn về giấy tờ, thì điều xã hội đang tranh luận lúc ấy có lẽ không còn chỉ là chuyện ve sầu nữa.
