Một buổi chiều trong ánh nắng dịu nhẹ, PV VietNamNet có dịp trò chuyện với ông Phạm Chánh Trực, người cán bộ lão thành có giọng nói trầm, nhỏ nhẹ và nụ cười hiền hậu.

Ở tuổi 87, ông Trực (bí danh Năm Nghị) - nguyên Phó ban Kinh tế Trung ương, nguyên Phó Bí thư thường trực Thành ủy, nguyên Chủ tịch HĐND TPHCM - vẫn nhớ rõ những năm tháng chiến tranh, từ tuổi thơ trong vùng căn cứ, dạy chữ cho bà con khi mới 9 tuổi đến thời gian hoạt động bí mật giữa lòng Sài Gòn, hai lần bị bắt và vượt ngục sinh tử.

W-Ông Phạm Chánh Trực 001.png
Ông Phạm Chánh Trực sinh năm 1939, quê ở xã Mỹ Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long cũ

Tuổi thơ lớn lên cùng kháng chiến

Ông Trực lớn lên trong giai đoạn đất nước chìm trong chiến tranh, tuổi thơ gắn liền với vùng căn cứ kháng chiến ở Nam Bộ.

"Chỉ ít lâu sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (2/9/1945), thực dân Pháp đã quay trở lại xâm lược, song tôi may mắn sống trong vùng độc lập nên không bị giặc chiếm đóng" - ông nhớ lại.

Khi đó, Pháp kiểm soát các thành phố, đô thị và lập đồn bốt, nhưng chưa thể vươn tới những vùng nông thôn sâu, xa. Chính trong hoàn cảnh ấy, ông lớn lên và sớm tham gia các hoạt động phục vụ kháng chiến.

Gia đình ông tham gia cách mạng từ rất sớm, khi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ: cha là Trưởng ban Bình dân học vụ của xã, hai anh trai học ở Cần Thơ cũng thoát ly đi kháng chiến, sau đó đến lượt người chị.

"Có thể nói, từ nhỏ tôi đã sống trong một gia đình mà mọi người đều xoay quanh công tác kháng chiến" - ông chia sẻ.

Việc học của ông cũng gắn với hoàn cảnh chiến tranh. Ban đầu, ông học ở một trường làng cách nhà vài cây số. Lên lớp 3, ông được đưa đến học tập trung ở vùng căn cứ giáp ranh Vĩnh Long - Trà Vinh, nơi tương đối an toàn trước các cuộc càn quét của quân Pháp.

Năm 1948, ông học xong bậc tiểu học. Theo dự định, ông sẽ học tiếp trung học ở Quân khu 9 (Tây Nam bộ, khu vực Cà Mau, U Minh), nhưng vì còn quá nhỏ, chưa thể tự chăm sóc bản thân nên không được cho đi.

Trở về nhà, ông theo cha đi dạy xóa mù chữ cho bà con.

"Dù mới 9 tuổi, tôi cũng tham gia dạy chữ cho người dân. Đó là thời điểm phong trào chống 'giặc dốt' được đẩy mạnh, bên cạnh chống 'giặc đói' và chống giặc ngoại xâm" - ông kể.

Trong nhà ông, các hoạt động phục vụ kháng chiến cũng diễn ra thường xuyên: mẹ ông đón bộ đội về nghỉ ngơi, cùng bà con nấu cơm, may vá quần áo, chăm lo cho bộ đội. Những người phụ nữ làm công việc này khi đó được gọi là "má chiến sĩ".

Năm 1952, chiến tranh ngày càng khốc liệt khi quân Pháp tiến vào, lập đồn bốt gần nơi gia đình sinh sống. Cha ông Trực thường xuyên đi công tác, mẹ đã mất, nhà chỉ còn mấy chị em nên gia đình buộc phải phân tán: một người chị được đưa về bên ngoại ở Cà Mau, còn ông và em trai được cha gửi lên thị xã Vĩnh Long để đi học.

Khi đó, ông 13 tuổi. Tại đây, ông gặp lại một người bạn học lớn tuổi hơn, đang làm cán bộ tỉnh phụ trách vận động phong trào học sinh thị xã. Từ cuộc gặp ấy, ông bắt đầu tham gia phong trào học sinh.

Những năm tháng giữa lòng Sài Gòn

Năm 1957, ông lên Sài Gòn học tại Trường ĐH Khoa học Sài Gòn (nay là Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐHQG TPHCM) và tham gia các phong trào sinh viên thành phố.

Giữa năm 1961, trên đường đến trường, ông Trực bị địch bắt. Trong một cuộc càn quét ngoài vùng căn cứ Đức Hoà - Củ Chi, anh Trần Quang Cơ - Bí thư Ban cán sự học sinh, sinh viên khu Sài Gòn - Gia Định hy sinh, anh Lê Quang Vịnh bị bắt cùng một số cán bộ của Ban, từ đó làm cơ sở trong nội thành bị vỡ. 

Vượt ngục khi đó là chấp nhận một cuộc đấu tranh sinh tử. Muốn ra ngoài phải trèo tường, vượt qua những khu vực có thể bị phát hiện, bị bắn hoặc gặp mìn. Nhưng chúng tôi vẫn quyết tâm tìm cách thoát ra để tiếp tục hoạt động cách mạng.

Ông Phạm Chánh Trực - nguyên Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM

Cuối năm 1961, ông được đưa đến bệnh viện Chợ Quán điều trị vì bị tra tấn trong quá trình bắt giữ. Tại đây, ông gặp một nhóm người đang tìm cách vượt ngục và tham gia cùng họ.

“Chúng tôi chỉ có ít người, bí mật chuẩn bị rồi quyết định vượt ngục vào đêm Tết Tây, 31/12/1961 rạng sáng 1/1/1962" - ông Trực kể.

Năm 1965, Khu ủy củng cố phong trào thanh niên và thành lập Khu đoàn thanh niên, tên công khai là Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng, hoạt động trong Mặt trận dân tộc giải phóng. Khu đoàn gồm đầy đủ các bộ phận: Đoàn ủy Thanh niên công nhân lao động, Đoàn ủy Học sinh, Đoàn ủy Sinh viên, các ban tham mưu Tuyên huấn, Tổ chức, Kiểm tra và các Ban Vận động trí thức trẻ, và đặc biệt có cả Ban quân sự và An ninh.

Phong trào HSSV Sài Gòn.png
Học sinh, sinh viên Sài Gòn xuống đường tham gia các hoạt động biểu tình thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ảnh: Tư liệu

"Khu Đoàn vừa tổ chức hoạt động chính trị, vừa xây dựng cơ sở và tổ chức hoạt động vũ trang. Có thể nói, Khu Đoàn Sài Gòn - Gia Định có hai đặc điểm rất khác biệt so với các tổ chức Đoàn Thanh niên ở những địa phương khác" - ông Trực cho biết.

Do hoạt động bí mật trong thành phố, Khu ủy uỷ nhiệm Ban thường vụ Khu Đoàn (Thành đoàn sau này) đồng thời làm Đảng ủy Thanh vận. Nhờ đó, việc phát triển đoàn viên thành đảng viên, xây dựng chi bộ và cơ sở Đảng trong phong trào thanh niên được thực hiện ngay trong hệ thống tổ chức Đoàn.

Một đặc điểm khác là Khu Đoàn được giao nắm lực lượng vũ trang. Khu ủy ủy quyền cho Đảng ủy Thanh niên trực tiếp lãnh đạo lực lượng vũ trang của Khu Đoàn, tổ chức và phát triển lực lượng, thành lập lực lượng Biệt động Khu Đoàn (Thành Đoàn).

Trong giai đoạn chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, các tổ chức công nhân, nông dân, phụ nữ, Hoa vận cũng xây dựng lực lượng vũ trang. Nhưng theo ông Trực, lực lượng gắn với phong trào hoạt động thường xuyên, liên tục và kéo dài đến cuối năm 1969 và tiếp tục tồn tại đến ngày giải phóng là lực lượng vũ trang của Khu Đoàn.

"Chính việc được giao đồng thời cả công tác Đoàn và công tác Đảng đã giúp chúng tôi trưởng thành rất nhiều. Anh em được huấn luyện để làm công tác Đảng, lãnh đạo phong trào và xây dựng cơ sở, nhưng tất cả đều được thực hiện trong lòng phong trào thanh niên".

Năm 1969, ông bị bắt lần thứ hai, bị đưa về trại Tân Hiệp, Biên Hòa (Đồng Nai) rồi bị câu lưu vì địch không lập được hồ sơ để đưa ra tòa. Một lần nữa, ông cùng đồng đội tìm cách vượt ngục.

Những người trẻ làm nên sức mạnh phong trào

Theo ông Trực, học sinh, sinh viên Sài Gòn là lực lượng đặc biệt trong cuộc đấu tranh.

"Sinh viên, học sinh là “ngòi pháo”, tạo ra tiếng nổ đầu tiên, sau đó thu hút và lôi kéo các tầng lớp thanh niên, quần chúng cùng tham gia" - ông nói.

Nhưng để tạo nên một phong trào lớn từ những hoạt động bí mật không phải việc dễ dàng. "Một cơ sở bí mật chỉ có thể vận động thêm một số người, sau đó từ những nhóm nhỏ mới từng bước lan rộng. Vì vậy, để tạo thành một phong trào lớn là cả một quá trình" - ông nhận định.

W-Ông Phạm Chánh Trực 002.png
Ông Phạm Chánh Trực là Bí thư Thành đoàn TNCS đầu tiên của TPHCM sau ngày giải phóng

Lực lượng thanh niên, sinh viên tiếp tục xây dựng cơ sở trong trường học, từng bước giành Ban đại diện sinh viên ở nhiều trường. Đến kỳ bầu Tổng hội Sinh viên Sài Gòn nhiệm kỳ 1966-1967, cơ sở cách mạng giành được quyền lãnh đạo Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, nắm giữ ngọn cờ công khai, “hợp pháp” phát động đấu tranh, biểu tình, hội thảo... trở nên thuận lợi, chủ động và công khai rộng rãi hơn.

Từ 1966-1967 đến ngày giải phóng, Thành Đoàn lãnh đạo phong trào thông qua ngọn cờ Tổng hội Sinh viên Sài Gòn. Các hoạt động văn nghệ như "Tiếng hát những người đi tới", phong trào "Hát cho dân tôi nghe" thu hút đông đảo thanh niên, sinh viên, mở rộng mặt trận đấu tranh, góp phần tạo nên một lực lượng xung kích cách mạng toàn diện và mạnh mẽ.

Tôi không xem việc mình tham gia kháng chiến là một bước ngoặt hay một quyết định phải đắn đo, suy nghĩ nhiều. Đối với tôi, tất cả diễn ra rất tự nhiên.

Ông Phạm Chánh Trực - nguyên Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM

Ngày thành phố được giải phóng

Chuẩn bị chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử tháng 4/1975, ông Trực là Thành ủy viên (dự khuyết) đang là Bí thư Thành Đoàn Sài Gòn, được điều động về quận 11 (cũ) làm Bí thư Ban cán sự Đảng, phụ trách tổ chức khởi nghĩa giành chính quyền tại địa phương đón đầu mũi tiến quân của Quân giải phóng và của Bộ chỉ huy tiền phương phía Nam.

“Đêm 29 đến sáng 30/4, nhiều nơi trong thành phố tổ chức khởi nghĩa giành chính quyền. Tại quận 11, khoảng 9h30 ngày 30/4, sau khi nghe Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố qua đài phát thanh yêu cầu sĩ quan, binh sĩ giữ nguyên vị trí, không nổ súng, toàn thể lực lượng chính trị, vũ trang quận 11 đã phát động nhân dân đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền” - ông kể.

Tại các phường, chính quyền cũ tan rã, cán bộ và cơ sở ta thành lập chính quyền cách mạng và điều hành chính quyền mới. Trưa 30/4, quân giải phóng tiến vào thành phố…

Ông nhấn mạnh thành quả ngày 30/4 là kết quả phối hợp nhiều lực lượng. "Đây là kết quả của việc kết hợp giữa các phương án và các lực lượng chính trị, vũ trang, binh vận để có được thành quả cách mạng".

Khi bộ đội tiến vào có sự hưởng ứng, sự phối hợp hiệp đồng các lực lượng để việc tiếp quản chính quyền thực thi hiệu quả. Đây là kết quả của việc kết hợp giữa các phương án chính trị, vũ trang, binh vận để có được thành quả cách mạng.

Ông Phạm Chánh Trực - nguyên Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TPHCM

Ngày thống nhất cũng mở ra nhiệm vụ hoàn toàn mới.

"Những ngày đầu sau giải phóng, không khí phấn khởi tưng bừng, nhưng Thành ủy đứng trước thực tế khó khăn rất lớn: thất nghiệp, thiếu đói, an ninh trật tự và nhiều vấn đề xã hội bức bách đặt ra trước mắt" - ông nhớ lại.

Chỉ hai tháng sau đó, tháng 7/1975, hai đại đội thanh niên được tổ chức ra vùng ven thành phố làm thí điểm tổ chức thanh niên xung phong tham gia phát triển kinh tế. Từ đó, phong trào thanh niên xung phong bắt đầu hình thành, với cuộc ra quân của 10.000 thanh niên xung phong ngày 28/3/1976.

Theo ông Trực, ý nghĩa trước tiên của phong trào là chỉ ra cho thanh niên con đường tự cứu mình, góp phần xây dựng đất nước trong bối cảnh thất nghiệp, đói nghèo sau chiến tranh: "Đó là lao động sản xuất, tự lực, tự cường, không chờ đợi, không ỷ lại".

Ông Phạm Chánh Trực 007.png
Bí thư Thành ủy TPHCM Võ Văn Kiệt trao cờ truyền thống cho Bí thư Thành đoàn TPHCM Phạm Chánh Trực (phải) trong lễ ra quân Thanh niên Xung phong năm 1976. Ảnh: Tư liệu/TTXVN

Hơn nữa, phong trào còn mang một ý nghĩa quan trọng: tạo ra một hình mẫu hòa hợp dân tộc sau chiến tranh. Những người từng là binh lính chế độ cũ, công chức, viên chức, cùng học sinh, sinh viên, trí thức tham gia thanh niên xung phong, do Đoàn Thanh niên cộng sản dẫn dắt. 

"Đây là một tổ chức hòa hợp dân tộc được hình thành một cách tự nhiên trong những ngày đầu thống nhất đất nước" - ông Trực nhận định.

Nhìn lại, ông Trực cho rằng điều quan trọng nhất của phong trào là không chỉ tạo việc làm mà còn khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường, giúp một thế hệ thanh niên bước ra khỏi ám ảnh chiến tranh để xây dựng cuộc sống mới - một chặng đường tiếp nối tự nhiên từ giành lại thành phố trong chiến tranh đến xây dựng thành phố trong hòa bình.

Sau thời gian làm công tác đoàn, ông Phạm Chánh Trực chuyển sang làm quản lý nhà nước ở nhiều vị trí khác nhau của TPHCM như Giám đốc Sở Giáo dục Đào tạo, Bí thư Quận ủy Quận 5, Phó Chủ tịch UBND TPHCM, Phó Bí thư thường trực Thành ủy TPHCM, Chủ tịch HĐND TPHCM, Phó Ban Kinh tế Trung ương, Trưởng Ban quản lý Khu Công nghệ cao TPHCM…

Bài 2: Ký ức về Bí thư Võ Văn Kiệt và câu hỏi trước mâm cơm độn của công nhân