Giảm chi phí đầu vào luôn là bài toán lớn của sản xuất nông nghiệp, lĩnh vực chịu nhiều tác động từ biến động thị trường, thiên tai và quy mô sản xuất còn hạn chế. Trong bối cảnh đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 292/2025/NĐ-CP ngày 06/11/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 216/2025/QH15 ngày 26/6/2025 của Quốc hội về việc kéo dài thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp. Thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp quy định tại Nghị định này được thực hiện từ ngày 01/01/2026 đến hết ngày 31/12/2030.
Một trong những nội dung được người dân và doanh nghiệp quan tâm nhất là đối tượng được miễn tiền thuê đất nông nghiệp. Theo nghị định, chính sách này không áp dụng chung chung mà xác định rõ ràng các nhóm đối tượng được hưởng, căn cứ vào hình thức thuê đất và mục đích sử dụng đất theo pháp luật đất đai.
Theo quy định, thuế sử dụng đất nông nghiệp được miễn đối với toàn bộ diện tích đất phục vụ cho hoạt động nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm trong lĩnh vực nông nghiệp; diện tích đất trồng cây hằng năm theo quy định của pháp luật về đất đai; cũng như diện tích đất sử dụng vào mục đích làm muối.
Bên cạnh đó, toàn bộ diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao hoặc công nhận quyền sử dụng đất cho hộ nghèo cũng thuộc diện được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp. Việc xác định hộ nghèo được căn cứ theo chuẩn hộ nghèo do Chính phủ ban hành. Trường hợp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành chuẩn hộ nghèo áp dụng riêng tại địa phương theo quy định pháp luật, thì việc xác định hộ nghèo được thực hiện theo chuẩn do địa phương quy định.

Chính sách miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp cũng được áp dụng đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Cụ thể, bao gồm hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất, công nhận quyền sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp; hộ gia đình, cá nhân nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp, trong đó có cả trường hợp nhận thừa kế hoặc được tặng cho quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, hộ gia đình, cá nhân là thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sản xuất nông nghiệp cũng thuộc diện được miễn thuế, bao gồm cả các hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư đã nhận đất giao khoán ổn định từ hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh hoặc từ các công ty nông, lâm nghiệp để phục vụ sản xuất nông nghiệp theo quy định của pháp luật.
Đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp góp quyền sử dụng đất nông nghiệp của mình để thành lập hợp tác xã hoặc liên hiệp hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo quy định của Luật Hợp tác xã, toàn bộ diện tích đất góp vốn này cũng được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp.
Bên cạnh khu vực hộ gia đình và cá nhân, chính sách miễn thuế còn áp dụng đối với diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho các tổ chức như tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp và các đơn vị khác, với điều kiện các tổ chức này đang trực tiếp sử dụng đất vào mục đích sản xuất nông nghiệp.
Trường hợp các tổ chức được Nhà nước giao đất nông nghiệp nhưng không trực tiếp sản xuất, mà giao lại cho tổ chức hoặc cá nhân khác nhận thầu theo hợp đồng để sản xuất nông nghiệp, thì diện tích đất đó thuộc diện bị thu hồi theo quy định của Luật Đất đai. Trong thời gian Nhà nước chưa thực hiện thu hồi đất, tổ chức đang quản lý diện tích đất này phải nộp đủ 100% thuế sử dụng đất nông nghiệp theo quy định.
Có thể thấy, nghị định không chỉ là biện pháp hỗ trợ tài chính, mà còn thể hiện chủ trương sử dụng hiệu quả tài nguyên đất đai, gắn quyền lợi với trách nhiệm của người sử dụng đất. Việc miễn tiền thuê đất nông nghiệp, nếu được triển khai đúng đối tượng và đúng quy định, sẽ góp phần tháo gỡ gánh nặng chi phí, ổn định sản xuất và thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo định hướng của Nhà nước.