Theo chương trình, Thủ tướng Lê Minh Hưng sẽ gặp giới ngân hàng và doanh nghiệp hôm nay 13/08.

Một yêu cầu được Chính phủ nhấn mạnh nhiều lần thời gian qua là tiếp tục giảm chi phí vốn, phấn đấu giảm thực chất lãi suất cho vay. Ngân hàng nhà nước (NHNN) được yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt để tạo điều kiện giảm lãi suất, trong khi các tổ chức tín dụng phải tiết giảm chi phí, tăng năng suất và giảm chi phí trung gian.

Yêu cầu này càng cần thiết khi lãi suất cao đang là một trở ngại đối với doanh nghiệp, còn nhu cầu vốn cho mục tiêu tăng trưởng hai con số ngày càng lớn.

Vietcombank (2).jpg
Việc dùng nhiều hơn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn cũng làm tăng áp lực cân đối kỳ hạn của các ngân hàng. Ảnh: Nguyễn Khánh

Tín dụng nhanh hơn tiền gửi

Đến 31/7, dư nợ toàn nền kinh tế đã gần 20,3 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025, theo NHNN.

Lãnh đạo NHNN cho biết nhu cầu vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn cho các công trình trọng điểm, đang rất lớn, trong khi nguồn huy động của các tổ chức tín dụng chủ yếu là ngắn hạn và tăng chậm hơn tín dụng. Sức ép lên lãi suất vì thế ngày càng lớn, còn việc vừa hỗ trợ tăng trưởng vừa giữ ổn định kinh tế vĩ mô trở nên khó khăn hơn.

Tình trạng tín dụng chạy nhanh hơn tiền gửi đã kéo dài nhiều năm. Theo ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ NHNN, bình quân giai đoạn 2021–2025, tốc độ tăng tín dụng cao hơn tăng trưởng huy động 3,8 điểm phần trăm. Đến giữa tháng 6 năm nay, tín dụng vẫn tăng nhanh hơn huy động khoảng 2 điểm phần trăm. Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi của hệ thống (LDR) đã lên khoảng 112–114%.

NHNN khẳng định thanh khoản hệ thống vẫn dồi dào và khả năng chi trả được bảo đảm. Nhưng hệ thống không thiếu thanh khoản trước mắt không có nghĩa vốn dài hạn cũng dồi dào và rẻ.

Tín dụng càng tăng nhanh hơn tiền gửi, ngân hàng càng phải cạnh tranh huy động. Giá đầu vào của tiền vì thế khó giảm nhanh như giá đầu ra mà Chính phủ mong muốn.

Để tăng khả năng cung ứng vốn, NHNN đã điều chỉnh một số quy định. Tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước được tính khi xác định LDR được nâng lên 50%; tỷ lệ tối đa vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn được nâng lên 40%.

Những điều chỉnh này có thể giúp hệ thống ngân hàng đáp ứng thêm khoảng 1,7 triệu tỷ đồng nhu cầu vốn của 35 dự án trọng điểm. Tuy nhiên, khả năng cho vay được mở rộng không đồng nghĩa nguồn vốn dài hạn của hệ thống tăng tương ứng. Việc dùng nhiều hơn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn cũng làm tăng áp lực cân đối kỳ hạn của các ngân hàng.

38,5 triệu tỷ đồng sẽ được huy động từ đâu?

Từ đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, các tuyến đường sắt mới, metro, vành đai, cao tốc đến điện, điện hạt nhân, sân bay, cảng biển và hàng nghìn dự án bất động sản, nhiều dự án lớn đã được thông qua hoặc nằm trong các quy hoạch được phê duyệt.

Cộng sơ bộ quy mô vốn của những dự án và chương trình lớn đã công bố, con số lên tới khoảng 670–690 tỷ USD. Đây không phải số vốn phải huy động trong cùng một thời kỳ, mà chủ yếu để hình dung quy mô của các dự án đang và sẽ được triển khai.

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026–2030 còn lớn hơn nhiều, khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương gần 1.500 tỷ USD, hơn gấp đôi 5 năm trước. Theo Bộ Tài chính, tỷ lệ đầu tư/GDP phải tăng từ khoảng 33% lên khoảng 40%.

Phần lớn nhu cầu vốn cho những dự án lớn còn chưa bước vào giai đoạn cao điểm, trong khi sức ép lên nguồn vốn ngân hàng đã xuất hiện từ trước.

Fitch Ratings dự báo tín dụng ngân hàng Việt Nam có thể lên khoảng 155% GDP trong năm 2026, gấp ba mức trung vị 52% của các nền kinh tế được xếp hạng BB. Tổ chức này cảnh báo tăng trưởng tín dụng cao kéo dài có thể dẫn tới phân bổ vốn sai lệch, đẩy giá tài sản lên cao và khuyến khích đầu cơ.

Câu hỏi không chỉ là làm sao giảm lãi suất, mà còn là 38,5 triệu tỷ đồng sẽ được huy động từ đâu, với kỳ hạn nào và với giá bao nhiêu?

Ai trả cho phần lãi suất được giảm?

Cắt giảm chi phí, chuyển đổi số và tăng năng suất có thể giúp ngân hàng giảm thêm lãi suất, nhưng khó bù hết nếu chi phí huy động vốn tăng. Ngân hàng cũng có thể giảm biên lợi nhuận để chia sẻ với doanh nghiệp, song ngân hàng thương mại cũng là doanh nghiệp: phải kinh doanh có lãi, bảo toàn vốn, trích lập dự phòng và giữ niềm tin của người gửi tiền.

Các gói tín dụng ưu đãi vì thế đặt ra một vấn đề cụ thể: ai chịu phần lãi suất được giảm? Nếu Nhà nước muốn hỗ trợ một số lĩnh vực vì mục tiêu phát triển, có thể cân nhắc cấp bù lãi suất hoặc bảo lãnh tín dụng, nhưng phải đúng đối tượng và kiểm soát được việc thực hiện.

Minh bạch toàn bộ chi phí vay, thay vì chỉ công bố lãi suất, cũng giúp doanh nghiệp lựa chọn nguồn vốn tốt hơn và tăng cạnh tranh giữa các ngân hàng.

Nhưng, câu hỏi đáng để đặt ra là: nguồn vốn rẻ sẽ đến từ đâu?

Tìm thêm những nguồn vốn dài hạn

NHNN có thể tiếp tục hỗ trợ thanh khoản để tạo điều kiện giảm lãi suất, nhưng cũng không thể nới quá mạnh khi CPI bình quân bảy tháng đã tăng 4,39% và tỷ giá vẫn chịu sức ép. Tiền được bơm ra quá nhiều có thể chuyển sức ép từ lãi suất sang lạm phát, tỷ giá hoặc giá tài sản. Giảm lãi suất vì thế vẫn phải đi cùng giữ lạm phát, tỷ giá và các cân đối vĩ mô.

Phần vốn mà hệ thống ngân hàng khó có thể đáp ứng hết cần được huy động nhiều hơn qua những kênh khác.

Dư nợ trái phiếu Chính phủ hiện tương đương gần 22% GDP, trong khi tồn ngân quỹ nhà nước hơn 1,4 triệu tỷ đồng. Khoản tồn ngân quỹ không thể đơn giản mang ra đầu tư hay cho doanh nghiệp vay, nhưng quy mô này cho thấy quản trị dòng tiền công và phối hợp giữa chính sách tài khóa với tiền tệ sẽ ngày càng quan trọng khi nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng mạnh.

Thị trường vốn cũng phải làm nhiều hơn. Các dự án hạ tầng có vòng đời hàng chục năm cần được tài trợ nhiều hơn bằng trái phiếu Chính phủ và các nguồn vốn dài hạn. Doanh nghiệp cần tăng vốn chủ sở hữu, phát hành trái phiếu và huy động trên thị trường vốn thay vì quá phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Ngân sách có thể làm vốn mồi để kéo thêm vốn tư nhân.

Một tuyến đường sắt, nhà máy điện hay metro cần vốn vài chục năm không nên cạnh tranh quá nhiều với doanh nghiệp sản xuất đang cần khoản vay một năm để mua nguyên liệu, trả lương và mở rộng đơn hàng.

Quy mô gần 1.500 tỷ USD vốn đầu tư trong 5 năm cho thấy nhu cầu vốn của nền kinh tế sẽ còn rất lớn. Ngân hàng vẫn giữ vai trò quan trọng, nhưng những dự án có vòng đời hàng chục năm cũng cần những nguồn vốn có kỳ hạn tương xứng.

Khi những nguồn vốn dài hạn ấy được mở rộng, sức ép lên tín dụng ngân hàng cũng có thể giảm bớt. Lãi suất khi ấy sẽ có thêm điều kiện để tìm một mặt bằng thấp hơn.