Sinh ra và lớn lên vào những năm cuối của thời kỳ bao cấp, với tôi, cái đói không phải là một khái niệm trừu tượng. Tôi vẫn nhớ một buổi sáng đi học, bố chỉ còn đủ tiền mua một gói xôi. Bố nói với cô bán hàng rằng mình đã ăn rồi, để nhường trọn phần sáng ấy cho tôi và lặng lẽ ngồi nhìn con ăn.

Tôi cũng nhớ những bữa cơm ở nhà ngoại, nơi mấy thế hệ cùng sống dưới một mái nhà. Ông bà đều là cán bộ nhà nước, nhưng sau bữa cơm của hơn chục người, cả nhà đôi khi chỉ có một quả dưa lê để tráng miệng. Bà ngoại tỉ mẩn bổ quả dưa thành hơn chục miếng mỏng, vừa đủ để mỗi người được nếm một chút. Miếng dưa ấy ám ảnh đến mức trong bài tập làm văn về ước mơ nghề nghiệp, tôi chỉ viết: Tôi ước mơ lớn lên trở thành người bán dưa lê, để được ăn dưa thỏa thích.

Quan điểm phát triển đặt con người ở trung tâm

Bốn thập kỷ đã trôi qua. Cậu bé từng mơ làm người bán dưa lê đã cùng đất nước đi một chặng đường rất dài. Nhưng khi đời sống vật chất được nâng lên, một câu hỏi khác lại xuất hiện: Làm thế nào để đất nước giàu hơn mà con người không xa nhau hơn; để thành quả tăng trưởng thực sự đi vào cuộc sống của từng gia đình?

Tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 14, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt câu hỏi ấy vào vị trí trung tâm của mô hình phát triển mới. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, phát triển phải làm cho nền kinh tế lớn hơn, xã hội tốt đẹp hơn, con người phát triển toàn diện hơn, cộng đồng gắn kết hơn và niềm tin được củng cố; đặc biệt, phải “không để tăng trưởng làm gia tăng bất bình đẳng hoặc đẩy người yếu thế ra bên lề”.

Thước đo cuối cùng không chỉ là quy mô GDP, mà là chất lượng sống, cơ hội phát triển và hạnh phúc của nhân dân.

vnapotalkhaimachoinghilanthubabanchaphanhtrunguongdangkhoaxiv8898995 17845138659611971331841 1301.jpg
Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 14. Ảnh: TTXVN

Đây không chỉ là một thông điệp giàu tính nhân văn, mà còn là một lựa chọn phát triển đúng đắn và hiện đại. Thực tế thế giới cho thấy kinh tế có thể tăng trưởng nhanh trong khi khoảng cách cơ hội ngày càng rộng. Công nghệ có thể nâng cao năng suất nhưng cũng có thể đẩy những lao động chưa được chuẩn bị ra ngoài thị trường việc làm.

Điểm đáng chú ý là tăng trưởng không hề bị xem nhẹ. Việt Nam vẫn phải tăng năng suất, làm chủ công nghệ và tạo ra nhiều của cải hơn. Của cải ấy phải được chuyển hóa thành việc làm, thu nhập, nhà ở, giáo dục, y tế và cơ hội đi lên cho người dân.

Việt Nam đã đi một chặng đường dài

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong hoàn cảnh đất nước đứng trước nạn đói, nạn mù chữ và nguy cơ ngoại xâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định chống đói, chống dốt là những nhiệm vụ cấp bách. Những phong trào cứu đói, tăng gia sản xuất và bình dân học vụ đã thể hiện từ rất sớm một quan điểm nhất quán: nền độc lập chỉ thực sự có ý nghĩa khi đời sống của nhân dân được chăm lo.

Bốn mươi năm đổi mới đã tạo ra những thay đổi sâu sắc. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, tuổi thọ trung bình tăng lên, quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người được cải thiện rõ rệt. Đằng sau những con số đó là hàng chục triệu người thoát nghèo, nhiều trẻ em được đến trường hơn, những vùng khó khăn được kết nối bằng giao thông, điện, viễn thông và dịch vụ thiết yếu. Đó là thành quả của một quá trình phát triển gắn tăng trưởng với tiến bộ và công bằng xã hội.

Tuy nhiên, nguy cơ bị bỏ lại phía sau hôm nay đã khác với thời thiếu đói. Đó có thể là một công nhân mất việc vì tự động hóa nhưng chưa được đào tạo lại; một gia đình trẻ làm việc nhiều năm vẫn khó tìm được chỗ ở phù hợp; một người già ở nông thôn sống xa dịch vụ y tế; trẻ em vùng khó khăn thiếu điều kiện học tập trong môi trường số; người khuyết tật vẫn gặp nhiều rào cản khi tiếp cận giao thông, giáo dục và việc làm...

w quynhon 9 112355 86258.jpg
Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ảnh minh hoạ: Hoàng Hà

Chuyển đổi số và chuyển đổi xanh cũng không tự động mang lại công bằng. Công nghệ mới có thể nâng năng suất nhưng làm một bộ phận lao động mất việc; chính sách môi trường cần thiết vẫn có thể tăng chi phí của hộ nghèo. Vì thế, yêu cầu công bằng phải được đưa vào ngay từ khi thiết kế chính sách.

Trước hết, cần chuyển trọng tâm từ hỗ trợ thụ động sang phân phối công bằng cơ hội phát triển. Một đứa trẻ sinh ra ở miền núi, một sinh viên trong gia đình nghèo hay một người lao động bước sang tuổi trung niên đều phải có cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, hạ tầng số và đào tạo nghề có chất lượng. 

Thứ hai, hệ thống an sinh phải theo kịp những rủi ro mới của nền kinh tế. Bảo hiểm xã hội cần bao phủ tốt hơn khu vực lao động phi chính thức; đào tạo lại phải đi trước các đợt chuyển đổi công nghệ; chính sách nhà ở phải giúp người lao động có chỗ ở phù hợp gần nơi làm việc. 

Thứ ba, mọi dự án và chính sách lớn cần được đánh giá không chỉ bằng tổng vốn đầu tư, tốc độ giải ngân hay tỷ lệ đóng góp vào GDP. Chúng ta cần trả lời thêm những câu hỏi cụ thể: Dự án tạo ra bao nhiêu việc làm bền vững; người dân bị thu hồi đất có cuộc sống tốt hơn hay không; nhóm thu nhập thấp được hưởng lợi gì; chi phí môi trường và xã hội cuối cùng do ai gánh chịu?

Đó là cách đưa chất lượng sống, cơ hội phát triển và hạnh phúc của nhân dân vào từng quyết định quản lý. Nếu chỉ đếm số kilomet đường, số khu đô thị hay số tiền đầu tư mà không đo được đời sống con người thay đổi thế nào, chúng ta vẫn chưa đo đúng giá trị của phát triển.

Trở lại với gói xôi và quả dưa lê của tuổi thơ, tôi không mong chúng ta lãng mạn hóa sự nghèo khó. Thiếu thốn vẫn là điều một đất nước phải vượt qua, tăng trưởng vẫn là điều kiện cần để người dân có cuộc sống tốt hơn. Nhưng sự giàu có sẽ không trọn vẹn nếu con người đánh mất sự sẻ chia và khả năng quan tâm đến người đang gặp khó khăn bên cạnh mình.

Kỷ nguyên vươn mình phải là thời kỳ Việt Nam tạo ra nhiều của cải hơn, đồng thời mở rộng cơ hội và bảo vệ tốt hơn những người yếu thế. Khi không còn một đứa trẻ nào còn phải mơ một nghề chỉ vì thèm một miếng ăn, khi mỗi người đều có cơ hội đi lên bằng năng lực và lao động của mình, lúc đó khát vọng tăng trưởng không bỏ ai lại phía sau mới thực sự trở thành hình hài của một đất nước giàu mạnh, nhân văn và đáng sống.