
Kỳ tích từ mỏ dầu từng bị các tập đoàn quốc tế từ bỏ
Mỏ Đại Hùng được phát hiện tại vùng biển Nam Côn Sơn trong điều kiện địa chất đặc biệt phức tạp, ở độ sâu hơn 100 mét.
Những khó khăn về cấu tạo địa chất cùng chi phí khai thác lớn khiến nhiều nhà thầu dầu khí quốc tế lần lượt rút lui, để lại dự án với giá chuyển nhượng tượng trưng chỉ 1 USD.
Phát biểu tại hội thảo "Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ có tính sáng tạo đột phá để khôi phục, mở rộng và nâng cao hiệu quả thăm dò, khai thác mỏ Đại Hùng" ngày 30/7, Giám đốc Chi nhánh Thăm dò Khai thác Dầu khí Nam Côn Sơn (PVEP-NCS) Nguyễn Xuân Ninh, cho biết từ một mỏ dầu khai thác chủ yếu dựa vào năng lượng tự nhiên của vỉa và suy giảm nhanh, Đại Hùng đã được chuyển đổi thành mỏ dầu vận hành bằng các công nghệ hiện đại, ngang tầm nhiều mỏ dầu ngoài khơi trên thế giới.
Theo ông Ninh, những kết quả đạt được không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế lớn mà còn khẳng định năng lực làm chủ khoa học công nghệ của đội ngũ kỹ sư Việt Nam trong lĩnh vực dầu khí ngoài khơi.

Theo Tiến sỹ Ngô Hữu Hải, Phó Chủ tịch Hội Dầu khí TPHCM, Đại Hùng là dự án "ba chìm bảy nổi chín lênh đênh". Lần đầu 1974 Mobil Oil của Mỹ đã phát hiện cấu tạo Đại Hùng, đến năm 1988 VPS phát hiện dầu khí mỏ Đại Hùng thông qua giếng DH – 1X.
Nhìn lại chặng đường lịch sử, mỏ Đại Hùng là một trường hợp đặc biệt điển hình. Từng được các tập đoàn dầu khí lừng danh thế giới như BHP và Petronas vận hành, nhưng đến năm 2003, tất cả đều rút lui vì đánh giá dự án không còn hiệu quả kinh tế, để lại một di sản với giá trị chuyển nhượng tượng trưng chỉ 1 USD.
Sau khi các tập đoàn lớn như BHP và Petronas rút lui, việc Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí (PVEP) tiếp nhận dự án là bước ngoặt lịch sử, đánh dấu giai đoạn người Việt tự chủ hoàn toàn công nghệ khai thác dầu khí nước sâu.
"Nhìn thấu lòng đất" để hồi sinh mỏ dầu
Vẫn theo Tiến sỹ Ngô Hữu Hải, chìa khóa để hồi sinh mỏ chính là cuộc cách mạng trong xử lý và minh giải địa chấn. Công nghệ mới giúp loại bỏ các tín hiệu nhiễu, làm rõ hệ thống đứt gãy địa chất vốn khiến các nhà thầu trước đây nhận diện sai cấu trúc mỏ.
Quan trọng hơn, nhóm nghiên cứu không chỉ ứng dụng công nghệ sẵn có mà còn hiệu chỉnh, "may đo" giải pháp phù hợp với điều kiện đặc thù của Đại Hùng, giải quyết những điểm nghẽn mà các nhà điều hành nước ngoài chưa thể vượt qua.
Kết quả, dự án từng đứng trước nguy cơ đóng cửa đã trở thành mỏ dầu có doanh thu nhiều tỷ USD, đóng góp hơn 600 triệu USD cho ngân sách nhà nước và dự kiến đạt tổng sản lượng khoảng 123 triệu thùng dầu đến năm 2034.

Chia sẻ tiếp về vấn đề này, Tiến sỹ Trần Hồng Nam, Thành viên HĐTV Tập đoàn Năng lượng Quốc gia Việt Nam, cho biết mỏ Đại Hùng có nhiều lần “hồi sinh” sau khi chúng ta tiếp nhận với giá tượng trưng là 1 USD.
Ông nhớ lại giai đoạn năm 2020 khi giá dầu lao dốc khiến dự án đứng trước nguy cơ phải dừng hoạt động khi chưa bao giờ có chuyện càng khai thác càng lỗ. Khi đó, nhiều kỹ sư đã chuẩn bị tinh thần tìm việc mới.
"Tôi phải nói thật là chúng tôi rất sợ, nhưng có niềm tin vào khoa học công nghệ với mỏ Đại Hùng. Chúng tôi dám phá bỏ những hình mẫu mà các tập đoàn nước ngoài không dám làm để cho Đại Hùng hồi sinh bằng công nghệ và sáng tạo Việt Nam", ông chia sẻ.
Theo ông Nam, hiện Đại Hùng đã đóng góp 5 trong số 34 sản phẩm công nghệ chiến lược của tập đoàn, bao gồm các lĩnh vực như AI, bản sao số và dữ liệu lớn… Trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới biến động, nguồn dầu từ Đại Hùng cũng góp phần bảo đảm nguyên liệu cho Nhà máy lọc dầu Dung Quất, tăng cường an ninh năng lượng quốc gia khi chúng ta có thể chủ động sản xuất được nhiên liệu cho tầu ngầm và máy bay chiến đấu.
Mỏ Đại Hùng đã tạo nên biểu tượng mới cho quốc gia
Phát biểu tại hội thảo này, GS.TS Dương Ngọc Hải, nguyên Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cho rằng nếu chỉ áp dụng máy móc các mô hình công nghệ sẵn có thì sẽ không thể giải quyết được bài toán của Đại Hùng.
Thành công của công trình đến từ việc các nhà khoa học Việt Nam chủ động nghiên cứu lại toàn bộ đặc điểm địa chất, xây dựng các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế của mỏ. Đây là minh chứng rõ nét cho giá trị của trí tuệ và năng lực khoa học công nghệ trong nước.
Ông Dương Ngọc Hải cũng đánh giá cao cách tiếp cận nghiên cứu của nhóm tác giả khi vẫn sử dụng các công cụ phân tích địa chấn và mô hình hóa hiện đại của thế giới, nhưng điều quyết định là tư duy khoa học và phương pháp ứng dụng phù hợp với điều kiện đặc thù của Đại Hùng.

Đánh giá về mỏ Đại Hùng, PGS. TS Lê Quang Duyến, Trường Đại học Mỏ địa chất, cho rằng mỏ Đại Hùng là một kỳ tích khi công ty dầu khí nước ngoài trả lại với giá tượng trưng 1 USD, nhưng Đại Hùng đã vượt qua khó khăn để phát triển được như ngày hôm nay và đang vươn tới con số 12 tỷ USD.
Để làm được điều đó, đầu tiên là phải có niềm tin vào tương lai và trí tuệ Việt Nam. Mỏ Đại Hùng còn góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng, an ninh năng lượng quốc gia.
Dưới góc nhìn của mình, PGS. TS Nguyễn Thị Ngọc Lan, Đại học Khoa học tự nhiên TPHCM cho rằng mỏ Đại Hùng được các hãng dầu khí sừng sỏ ở nước ngoài không khai thác được, nhưng PVEP đã tiếp nhận và khai thác vận hành hiệu quả.
Bà Lan cho biết, mỏ Đại Hùng là một điển hình trong các bài giảng của sinh viên ngành dầu khí. Trường Bách khoa gửi nhiều sinh viên ra thực tạp tại mỏ Đại Hùng, đây chính là môi trường đào tạo kỹ sư của ngành dầu khí và có nhiều người đã về làm việc tại mỏ Đại Hùng.