Rất nhiều doanh nghiệp blockchain Việt Nam “đem chuông đi đánh xứ người”, đã chứng minh được năng lực của mình và có những thành công nhất định.
Tuy nhiên, mặc dù sinh ra tại Việt Nam, họ lại gặp rất nhiều khó khăn để có thể hoạt động trên sân nhà. Chính vì thế, đa số doanh nghiệp này đều đặt trụ sở ở nước ngoài.

Làm sao để đem nguồn lực, sức lực của mình để về phục vụ cho thị trường Việt Nam? Đó vẫn là câu hỏi lớn được ông Nguyễn Thành Trung, sáng lập SkyMavis (kỳ lân công nghệ đầu tiên của Việt Nam ở mảng Web 3, được định giá gần 3 tỷ USD vào năm 2021), đặt ra tại sự kiện Ngày hội công nghệ TPHCM - Conviction 2026, khai mạc sáng 14/8.
Ông Nguyễn Thành Trung trăn trở, quê hương của nhiều doanh nghiệp blockchain là ở Việt Nam, tuy nhiên gần như “ không đá ở sân nhà, chỉ đá ở sân khách”.
Điều này đem đến các khó khăn nhất định, khi Việt Nam chưa có một đại bản doanh, sự hỗ trợ hay sân nhà đúng nghĩa, nên rất khó để chiến thắng được ở các thị trường quốc tế.
“SkyMavis có nhiều hoạt động liên quan đến thị trường nước ngoài, cũng như việc gọi vốn, khi nghĩ đến việc hồi hương, làm thế nào để quay lại Việt Nam, luôn có vấn đề đau đáu”, ông Trung chia sẻ.
Để doanh nghiệp blockchain nói riêng, cũng như các doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ Việt “hồi hương”, ông Nguyễn Thành Trung đưa ra các đề xuất:
Thứ nhất, làm sao giải quyết được bài toán thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam và nhận vốn từ nước ngoài về chỉ trong một khoảng thời gian, ví dụ 1 tháng đổ xuống.
Hiện ở Việt Nam để làm được điều này vô cùng khó, vì khung pháp lý có nhiều điểm rất khác so với nước ngoài.
Giả sử, nếu doanh nghiệp muốn có một vòng gọi vốn từ nhà đầu tư riêng lẻ chẳng hạn, qua một hợp đồng SAFE (quyền nhận cổ phần trong tương lai, không phải là nợ, không có ngày đáo hạn, cũng như không có lãi suất), hiện giờ pháp lý tại Việt Nam chưa có hỗ trợ cho việc này; bắt buộc doanh nghiệp phải đi qua từng điểm của một hợp đồng SAFE ở nước ngoài và tái cấu trúc điểm đó cho phù hợp với luật Việt Nam.
Cả quy trình này bao gồm luôn việc nhà đầu tư sẽ xem xét liệu có phù hợp với luật trọng tài quốc tế không và sẽ mất rất nhiều thời gian.
Bên cạnh đó, quy trình chuyển tiền về cũng rất phức tạp, vì lúc này doanh nghiệp phải đi qua dòng vốn FDI, dẫn đến việc doanh nghiệp phải lập công ty ở nước ngoài để đưa tiền về Việt Nam.
“Lúc đấy tất cả các lợi thế như tốc độ, cạnh tranh, làm sao để tiếp cận với vốn nhanh chóng, đem tiền về Việt Nam phục vụ cho thị trường, hoặc để trả lương cho kỹ sư ở Việt Nam, là một rào cản rất khó khăn”, ông Trung nói.
Để quá trình này diễn ra được thông suốt và nhanh chóng hơn, theo ông Nguyễn Thành Trung, Đề án Trung tâm Tài chính Quốc tế (IFC) đang định hình tại Việt Nam, có thể giải quyết được vấn đề này.
Theo đó, giả sử một nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư trực tiếp vào một công ty thành viên của IFC với thủ tục trong vòng 2-4 tuần, chắc chắn vấn đề này sẽ được giải quyết. Lúc này, khi cầm được vốn về Việt Nam, doanh nghiệp sẽ dễ dàng triển khai nguồn lực tại Việt Nam.
Đề xuất thứ hai được ông Nguyễn Thành Trung đưa ra, đó chính là việc định giá cho các tài sản trí tuệ của doanh nghiệp công nghệ blockchain.
Theo ông, khi một doanh nghiệp hồi hương về Việt Nam, muốn đem các quyền sở hữu trí tuệ gồm mã nguồn, tài sản vô hình trở về, nhưng hiện giờ chưa có cơ chế định giá cho các tài sản trí tuệ này.
Đồng nghĩa doanh nghiệp không thể tiếp cận được các công cụ tài chính như nguồn vốn, kể cả là đi qua 5 sàn tài sản mã hoá sẽ được Chính phủ Việt Nam cấp phép thí điểm tới đây.
Trong khi đó, ở nước ngoài, nếu đi qua cơ chế các sàn phi tập trung, sẽ có những cách họ đem các tài sản đó ra để thực hiện vay vốn, phục vụ hoạt động của doanh nghiệp.
Nhưng tại Việt Nam lại đang đi theo một quy trình có kiểm soát, mặc dù đây là một góc nhìn an toàn; có điều thực tế, các doanh nghiệp blockchain muốn trở về, họ cũng cần đến các dịch vụ được cung cấp bởi các sàn tập trung ở Việt Nam cho việc định giá.
Chính vì thế, làm sao để có những quy định rõ ràng về việc định giá cho các tài sản trí tuệ này. Đây cũng là cơ hội cho những sàn tài sản mã hoá của Việt Nam được cấp phép đầu tiên có thể cung cấp được nhiều dịch vụ hơn, vừa có thể mở rộng thị trường Việt Nam; cũng như phục vụ nhu cầu hoạt động của các doanh nghiệp công nghệ blockchain muốn đem tài sản mã hoá, tài sản vô hình về để tại Việt Nam, cũng như để trên sổ sách kế toán công ty ở Việt Nam.