Dứa dại có tên khoa học Pandanus tonkinensis, thuộc họ Dứa dại (Pandanaceae). Đây là cây mọc nhiều ở vùng ven suối, đồi núi ẩm, nhất là ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam. 

Tiến sĩ Ngô Đức Phương, Viện trưởng Viện Khoa học thuốc nam cho biết, trong dân gian, rễ và quả dứa dại được dùng khá phổ biến cho các chứng liên quan đến đường tiết niệu và “nóng trong”.

Theo y học cổ truyền, dứa dại có vị ngọt dịu, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, giảm tiểu buốt, tiểu rắt, sỏi tiết niệu nhẹ và giúp cơ thể “mát”, giảm nóng trong. Ở một số địa phương, các thầy lang dùng rễ và quả dứa dại trong các bài giải độc gan, mát gan.

W-cfd9ec5e 7acb 430c af8a e6d1eb3c1b77.jpeg
Quả dứa dại. Ảnh: N. Huyền 

Trong thực tế, rễ hoặc quả dứa dại thường được sắc nước uống, có thể phối hợp với mã đề, râu ngô, cối xay… Một số nơi, người dân dùng quả dứa ngâm rượu uống.

“Dưới góc độ y học hiện đại, các nghiên cứu bước đầu cho thấy trong quả dứa dại chứa flavonoid, alkaloid, polyphenol có hoạt tính chống oxy hóa, chống viêm nhẹ và lợi tiểu trong mô hình thực nghiệm. Một số nghiên cứu trên nhóm thực vật cùng loài cây này cho thấy có tác dụng hỗ trợ tăng bài tiết nước tiểu và giảm phản ứng viêm ở đường tiết niệu. Điều này phần nào lý giải kinh nghiệm dân gian dùng dứa dại để hỗ trợ 'mát đường tiểu' và đào thải cặn nhỏ trong hệ tiết niệu”, Tiến sĩ Phương thông tin.

Tuy nhiên chuyên gia cũng nhấn mạnh, chưa có bằng chứng lâm sàng mạnh chứng minh dứa dại điều trị sỏi thận; vai trò chủ yếu là hỗ trợ.

“Người dân tuyệt đối không dùng loại quả này thay thế điều trị khi sỏi lớn hoặc tắc nghẽn tiết niệu, người cơ địa lạnh nên dùng vừa phải và không lạm dụng kéo dài”, Tiến sĩ Phương nói.