
Từ ngày 1/7, mức lương cơ sở tăng từ 2,34 triệu đồng lên 2,53 triệu đồng/tháng. Mức tăng 190.000 đồng/tháng (khoảng 8%) là căn cứ để tính lương, phụ cấp và nhiều chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Tại các bệnh viện công lập, tiền lương của bác sĩ, y sĩ, y tá được tính theo hệ số gắn với chức danh nghề nghiệp, nhân với mức lương cơ sở.
Với mức lương mới, bác sĩ hạng I (bác sĩ cao cấp) có mức lương từ 15,69 đến 20,24 triệu đồng/tháng, tương đương mức tăng từ 1,18 đến 1,52 triệu đồng.
Bảng lương bác sĩ cao cấp, bác sĩ y học dự phòng cao cấp (hạng I)
| Ngạch/bậc | Hệ số | Mức lương đang hưởng | Mức lương từ 1/7 | Mức tăng |
| Bậc 1 | 6,2 | 14.508.000 | 15.686.000 | 1.178.000 |
| Bậc 2 | 6,56 | 15.350.400 | 16.596.800 | 1.246.400 |
| Bậc 3 | 6,92 | 16.192.800 | 17.507.600 | 1.314.800 |
| Bậc 4 | 7,28 | 17.035.200 | 18.418.400 | 1.383.200 |
| Bậc 5 | 7,64 | 17.877.600 | 19.329.200 | 1.451.600 |
| Bậc 6 | 8 | 18.720.000 | 20.240.000 | 1.520.000 |
Bác sĩ cao cấp hay bác sĩ y học dự phòng cao cấp là một chức danh nghề nghiệp, họ phải tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa cấp II hoặc tiến sĩ nhóm ngành y học; ngành y học dự phòng, ngành dịch tễ học, ngành răng - hàm - mặt.
Bảng lương bác sĩ chính, bác sĩ dự phòng chính (Hạng II)
| Ngạch/Bậc | Ngạch/Bậc | Lương hiện nay | Lương từ 1/7 | Mức tăng |
| Bậc 1 | 4,4 | 10.296.000 | 11.132.000 | 836.000 |
| Bậc 2 | 4,74 | 11.091.600 | 11.992.200 | 900.600 |
| Bậc 3 | 5,08 | 11.887.200 | 12.852.400 | 965.200 |
| Bậc 4 | 5,42 | 12.682.800 | 13.712.600 | 1.029.800 |
| Bậc 5 | 5,76 | 13.478.400 | 14.572.800 | 1.094.400 |
| Bậc 6 | 6,1 | 14.274.000 | 15.433.000 | 1.159.000 |
| Bậc 7 | 6,44 | 15.069.600 | 16.293.200 | 1.223.600 |
| Bậc 8 | 6,78 | 15.865.200 | 17.153.400 | 1.288.200 |
Bác sĩ chính là người phải tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa cấp I hoặc thạc sĩ nhóm ngành y học, y học dự phòng, dịch tễ học hay ngành răng - hàm - mặt.
Với bác sĩ hạng III, mức lương tính theo bậc 1 đến 9, thấp nhất là 5.920.200 đồng (hệ số 2,34), cao nhất là gần 13 triệu đồng (hệ số 4,98).
Theo Nghị quyết 261/2025/QH15, từ ngày 1/1/2026, bác sĩ mới ra trường được tuyển dụng sẽ được xếp lương bậc 2 (hệ số 2,67) thay vì bậc 1 (hệ số 2,34). Với mức lương cơ sở mới, lương khởi điểm của bác sĩ mới ra trường ở mức 6.755.100 đồng, chưa tính các loại phụ cấp (ưu đãi nghề, đặc thù...) và thu nhập tăng thêm từ các nguồn thu riêng của bệnh viện.
Với y sĩ, lương được tính từ bậc 1 đến bậc 12, thấp nhất là 4.705.800 đồng (hệ số 1,86), cao nhất là 10.271.800 đồng (hệ số 4,04).
Tương tự, y tá cao cấp bậc cao nhất (bậc 9 - hệ số 4,98), mức lương nhận hàng tháng là gần 12,6 triệu đồng, tăng 946.200 đồng so với hiện nay. Trong khi bậc thấp nhất (bậc 1 - hệ số 2,34) sẽ nhận 5.920.000 đồng, tăng gần 445.000 đồng/tháng.
Y tá bậc 1 (hệ số 1,65) nhận mức lương 4.174.500 đồng/tháng, tăng 313.000 đồng so với hiện nay. Ở bậc cao nhất (bậc 12), y tá sẽ nhận 9.133.300 đồng, tăng 686.000 đồng.
Ngoài việc được tăng lương theo mức lương cơ sở, từ ngày 15/7, Nghị định 192 của Chính phủ về phụ cấp đặc thù y tế có hiệu lực, bổ sung nguồn thu nhập cho nhân viên y tế.
Theo đó, bác sĩ mổ chính, gây mê hồi sức hoặc châm tê chính được hưởng 100.000-560.000 đồng mỗi ca; người phụ mổ, phụ gây mê hưởng 60.000-400.000 đồng; người hỗ trợ ca mổ nhận 40.000-240.000 đồng. Phụ cấp thủ thuật bằng 30% mức phụ cấp phẫu thuật tương ứng.
Như vậy, cùng với phụ cấp ưu đãi nghề, phụ cấp đặc thù cho các ca trực và phẫu thuật, thủ thuật, chưa kể phần thu nhập tăng thêm tại bệnh viện, thu nhập thực tế của nhiều bác sĩ được dự báo cải thiện đáng kể.
Việc điều chỉnh lương và phụ cấp được kỳ vọng góp phần cải thiện đời sống cán bộ y tế, tạo động lực giữ chân nhân lực, nhất là tại hệ thống y tế công lập và tuyến cơ sở.
