
Đằng sau con số đạt 91,47% kế hoạch năm là một cuộc vận động đang diễn ra từ khu công nghiệp, doanh nghiệp FDI đến những nhóm lao động phi chính thức. Nhưng phát triển đoàn viên hôm nay không thể chỉ tính bằng số người được kết nạp. Bài toán khó hơn là làm sao để người lao động tự nguyện tìm đến, ở lại và nhìn thấy Công đoàn thực sự cần thiết đối với mình.
Ngày 5/10, khi Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức Hội nghị giao ban quý III, bức tranh phát triển đoàn viên sau 9 tháng cho thấy một bước tiến đáng kể.
Đến ngày 30/9, toàn hệ thống đã kết nạp 686.035 đoàn viên, đạt 91,47% chỉ tiêu năm 2026 sau khi chỉ tiêu được điều chỉnh còn 750.000 đoàn viên thực tăng. Đáng chú ý, riêng quý III phát triển 387.084 đoàn viên. Toàn hệ thống hiện có 10.591.462 đoàn viên tại 67.999 công đoàn cơ sở, nghiệp đoàn cơ sở.
Những con số ấy là kết quả của sự thay đổi cách làm.
Theo Trưởng ban Quan hệ lao động Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Tống Văn Băng, công tác phát triển đoàn viên, thành lập công đoàn cơ sở đang chuyển theo hướng xác định rõ nguồn, địa bàn, doanh nghiệp, đối tượng và trách nhiệm. Thay vì vận động chung chung, từng địa phương phải tìm đúng nơi còn đông người lao động chưa vào Công đoàn.
Thanh Hóa là một ví dụ. Trong 9 tháng, tỉnh phát triển 20.097 đoàn viên, đạt 100,5% chỉ tiêu, nâng tổng số đoàn viên lên 319.274 người; thành lập mới 172 công đoàn cơ sở, đạt 172% kế hoạch. Riêng quý III có thêm 98 công đoàn cơ sở và 6.966 đoàn viên.
Tại Hải Phòng, 9 tháng đầu năm, các cấp Công đoàn kết nạp khoảng 73.000 đoàn viên, thực tăng khoảng 50.000 người. Nhưng thay vì dừng ở kết quả đó, Công đoàn thành phố đã xác định ngay “địa chỉ” cho chặng tiếp theo: 786 đơn vị chưa thành lập công đoàn cơ sở, ưu tiên những doanh nghiệp đông lao động, sản xuất ổn định và còn dư địa lớn để phát triển đoàn viên.
Đến cuối tháng 9, khu vực phi chính thức đã hình thành 1.022 nghiệp đoàn cơ sở với 64.523 đoàn viên. Đó là một hướng mở rộng cần thiết khi thị trường lao động ngày càng đa dạng, người lao động làm việc theo những hình thức linh hoạt hơn và không phải tất cả đều nằm trong một doanh nghiệp có quan hệ lao động ổn định.
Tuy nhiên, những con số còn lại cũng cho thấy thách thức: Cả nước vẫn có 14.811 doanh nghiệp từ 20 lao động trở lên chưa có công đoàn cơ sở. Đặc biệt, còn 249 doanh nghiệp FDI sử dụng từ 100 lao động trở lên chưa thành lập Công đoàn.
Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Nguyễn Xuân Hùng vì thế yêu cầu những tháng cuối năm phải chuyển mạnh từ “giao chỉ tiêu” sang “giao địa chỉ, giao doanh nghiệp, giao trách nhiệm”, tập trung vào doanh nghiệp ngoài nhà nước, doanh nghiệp FDI, khu công nghiệp, cụm công nghiệp và nơi có đông lao động.
Điều đáng chú ý trong chỉ đạo lần này là Tổng Liên đoàn đặt đồng thời hai yêu cầu: phát triển đoàn viên thực tăng và giữ đoàn viên. Biến động tăng, giảm phải được theo dõi ở từng địa bàn, doanh nghiệp; khả năng duy trì đoàn viên trở thành một tiêu chí đánh giá kết quả.
Cách đặt vấn đề này đi vào điểm cốt lõi của công tác tập hợp người lao động hiện nay.
Người lao động gia nhập Công đoàn không chỉ để có tên trong danh sách. Họ cần nhìn thấy quyền lợi của mình được đại diện khi thương lượng tiền lương, tiền thưởng, bữa ăn ca; được hỗ trợ khi gặp khó khăn; được đối thoại khi điều kiện làm việc có vấn đề và được bảo vệ khi quyền lợi hợp pháp bị ảnh hưởng.
Đó cũng là lý do chất lượng công đoàn cơ sở sau thành lập được đặt ngang với yêu cầu mở rộng số lượng. Tổng Liên đoàn yêu cầu công đoàn mới phải nhanh chóng hoạt động thực chất: có cán bộ, quy chế, tổ chức đối thoại, thương lượng, chăm lo và thực hiện chức năng đại diện người lao động.
Việc điều chỉnh giảm mức đoàn phí từ năm 2025 cũng là một thay đổi theo hướng giảm bớt nghĩa vụ tài chính của đoàn viên. Với nhiều nhóm lao động, mức đóng phổ biến được điều chỉnh xuống 0,5% tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội hoặc tiền lương thực lĩnh, tùy khu vực.
Nhìn rộng hơn, quá trình mở rộng tổ chức đang diễn ra sau một giai đoạn tăng trưởng đáng kể. Từ đầu năm 2024 đến tháng 5/2026, hơn 2,2 triệu đoàn viên mới đã được kết nạp và hơn 15.000 công đoàn, nghiệp đoàn cơ sở được thành lập. Tuy nhiên, báo cáo tại Đại hội XIV Công đoàn Việt Nam cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế: có nơi nắm bắt tâm tư người lao động chưa kịp thời; hiệu quả đại diện, bảo vệ quyền lợi chưa cao; cán bộ Công đoàn còn thiếu và chất lượng chưa đồng đều.
Đó chính là những vấn đề cần khắc phục nếu muốn kết quả phát triển đoàn viên bền vững. Mở rộng Công đoàn vì thế phải đồng thời là mở rộng quyền lợi, chất lượng đại diện và niềm tin. Khi Công đoàn có mặt đúng nơi người lao động cần, lên tiếng đúng vấn đề họ quan tâm và mang lại những quyền lợi có thể cảm nhận được, mỗi đoàn viên mới không chỉ là một con số tăng thêm mà sẽ trở thành nền tảng cho một tổ chức Công đoàn thực sự vững mạnh từ cơ sở.
Thành Nam