Ông Huỳnh Văn Cang (sinh năm 1928), còn gọi là Tư Cang, từng làm thư ký cho ông Võ Văn Kiệt, Bí thư Khu ủy Sài Gòn - Gia Định (sau này là Thủ tướng).

Ông Tư Cang còn là nguyên Chủ tịch UBND quận 11, nguyên Giám đốc Sở Thương binh và Xã hội TPHCM (từ 1983-1988), nguyên Phó giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội TPHCM (từ 1988-1995).

Năm nay, khi chúng tôi trở lại thăm, ông vẫn nói mình may mắn được ở Sài Gòn đúng những năm tháng lịch sử của đất nước. Nhưng trong cuộc trò chuyện, bên cạnh ký ức vẫn còn rất sống động về ngày 30/4/1975, người cán bộ lão thành còn say sưa kể những câu chuyện ở các năm đầu sau ngày độc lập.

Ông nói rằng ông nhận thức khi Đảng đã nắm chính quyền thì chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng có ý nghĩa về đạo đức và chính trị rất lớn. Muốn có chính sách đúng và thực hiện các chế độ chính sách được tốt, người làm phải lắng nghe ý kiến quần chúng, ý kiến từ cơ sở.

125A2370.jpg
Ông Huỳnh Văn Cang. Ảnh: Phương Quyên

Dưới đây là một số câu chuyện về việc thực hiện công việc này trong những năm ông Tư Cang làm công tác trong ngành thương binh - xã hội - những câu chuyện giờ vẫn in đậm trong tâm trí của một người đã trải qua gần một thế kỷ cùng đất nước.

Chịu khó một chút để bớt nỗi đau cho bà mẹ liệt sĩ cô đơn

Chiều hôm ấy, tôi về Củ Chi, đang trò chuyện với một gia đình liệt sĩ để hỏi thăm nhà của đồng chí Út Đực thì một bà cụ 70 tuổi bước vào, nói mình tên là Nhãn.

"Tôi nghe nói cậu công tác ở thành phố về tìm thăm gia đình của bạn cùng chiến đấu với con tôi cả ngày nay mà chưa gặp. Biết cậu là người có lòng tốt như vậy nên tôi kể hoàn cảnh của tôi ra xem cậu có giúp được cho tôi hay không. Tôi có đứa con đi chống Mỹ năm 1962, nghe nói nó công tác ở Nhà Bè, rồi từ hòa bình đến nay đã 5 năm rồi mà trông đợi mãi vẫn không thấy nó về, chắc nó đã chết mà giấy báo tử hay tin tức gì khác cũng không có. Tôi nhờ anh em ở xã giúp đi tìm nhưng không có ai giúp được" - bà cụ nói. 

Trong những năm công tác ở Sở Thương binh và Xã hội thành phố, tôi cứ nguyện với mình ráng sao cho ít có lời phiền trách, ít nhất cũng không để ai phiền trách là thiếu tấm lòng lo nghĩ đến anh em thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng.

Ông Huỳnh Văn Cang

Tôi hỏi nếu bây giờ mời dì đi Nhà Bè, dì có thể thu xếp đi cùng không, thì dì bảo được.

Đi Nhà Bè rồi về đây ít nhất cũng đến 10 hoặc 11h đêm. Xe chúng tôi chở dì Nhãn chạy nhanh đến Nhà Bè, nhưng đến đây đã hết giờ làm việc của Ủy ban nên chúng tôi đi thẳng lại nhà riêng của đồng chí Từ Văn Sáng - Chủ tịch huyện Nhà Bè khi ấy.

Khi tôi giới thiệu dì Nhãn và yêu cầu của dì thì đồng chí Sáng cho biết có biết đồng chí Đực hồi chống Mỹ ở cánh Nông Hội - Nhà Bè, nhưng không rõ trường hợp hy sinh. Đồng chí Sáng chỉ đường cho chúng tôi đến gặp đồng chí Mười Tân là thủ trưởng cũ của đồng chí Đực.

Khi gặp được đồng chí Tân thì trời đã nhá nhem tối. Qua giới thiệu của tôi, đồng chí Tân báo cho dì Nhãn là đồng chí Đực đã hy sinh nhưng vì không quản lý lý lịch, không biết rõ địa chỉ gia đình nên không làm giấy báo tử được.

Chúng tôi trở về huyện đúng như hẹn, đồng chí Sáng và 2 đồng chí khác đã có mặt. Các đồng chí tiến hành việc lập hồ sơ liệt sĩ. Sau khi đọc rõ lại từng hồ sơ, đồng chí Sáng ký tên, cho đóng dấu. Làm hối hả như vậy nhưng cũng hơn 9 tối mới xong. Chúng tôi từ giã, phóng xe về xã Tân Thạnh, đến ngay nhà đồng chí Lỗi phụ trách công tác thương binh xã hội xã để nhờ đồng chí ấy đọc 1 lần nữa các hồ sơ thủ tục. Chúng tôi đề nghị xã nên giúp dì Nhãn những công việc cần thiết trong thời gian tới.

Rất mừng là độ 3 tháng sau, bà Trương Thị Nhãn được công nhận mẹ liệt sĩ và hưởng chế độ nuôi dưỡng tại địa phương.

Hôm ấy, chúng tôi về đến nhà đã quá 23h và ngủ một giấc ngon lành vì đã làm được một việc cụ thể cho một bà mẹ liệt sĩ cô đơn.

Giữ lời hứa với tiền tuyến

Trong dịp Tết nguyên đán 1983, khi chúng tôi đến thăm bộ đội ta ở mặt trận 479 đang làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, đồng chí Nguyễn Văn Thanh là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 thuộc Sư đoàn 5 nhờ tôi khi về thành phố thì đến Thủ Đức thăm gia đình đồng chí ấy.

Mùng 4 Tết về đến thành phố thì hôm sau, tôi đến ngay ấp 10 xã Linh Đông, tìm đến nhà đồng chí Thanh.

Đó là một ngôi nhà lá nhỏ rất đơn sơ được cất trên đoạn đường xe lửa cũ. Vào nhà, tôi thấy 1 cháu gái độ 10 tuổi đang sốt nằm đắp chăn ở giường, 3 cháu trai từ 8 tuổi trở xuống đang chơi ở nền đất. Thấy tôi đến, cháu trai lớn chạy đi kêu mẹ đang nhổ cỏ mướn gần đó. Tôi vô bếp xem nhà ăn Tết ra sao thì chỉ thấy 1 bơ cá rô kho và 1 nồi bầu luộc, hũ gạo chỉ có độ vài lít, trong nhà trống trơn không có vật gì đáng giá.

Vợ của anh Thanh về (chị Thanh), vui vẻ chào hỏi rồi chăm chú nghe tôi kể chuyện đi thăm đơn vị đồng chí Thanh. Như hờn trách, chị nói: "Ảnh mê đánh giặc quá nên biền biệt 4 năm không về coi mẹ con tôi sống chết ra sao. Đúng ra cũng còn sống nhưng là sống dở chết dở anh Tư à. 4 đứa con ngày càng lớn nên chúng nó ăn càng nhiều, một mình tôi chạy lo ăn, lo mặc, lo tiền học.

Không một tấc đất, tôi chỉ đi làm mướn, ngày nào không ai mướn thì đi mót lúa khắp cánh đồng. Có khi hàng tháng trưa ăn cháo, chiều ăn cơm, ăn cơm chiều để tối yên bụng mà ngủ và chịu đựng đến trưa hôm sau. Tội nghiệp thằng Bình, đi học nửa buổi, lúc nghỉ xả hơi trốn chạy về nhà than đói bụng quá, tôi khuyên con ráng học, chớ để dốt khổ cả đời.

Hồi hòa bình, 2 vợ chồng cũng ráng lợp tôn cái nhà này, nhưng năm kia không có tiền để đóng tiền trường cho 3 con đi học, tôi đã phải gỡ mái tôn đi bán đóng tiền và mua mái lá lợp lại" - chị Thanh kể một tràng.

Chị còn cho biết hồi năm 1967 chị bị địch bắt, bị tù 4 năm. Chị bị tra tấn đến bây giờ vẫn liên tục đau đầu.

"Đau thì đau, tôi vẫn gắng đi làm mướn để nuôi con ăn học" - chị nói.

"Địa phương có giúp đỡ chị không?" - tôi hỏi. Chị cho biết cán bộ cũng có quan tâm, nhưng "giúp lời nói, giúp ngày, giúp bữa chứ lấy đâu mà nuôi nổi mình hằng tháng, hằng năm. Có thân, mình phải lo, đói no mình ráng liệu".

Khi đi thăm, tôi định tặng chị ít quà rồi thôi. Nhưng trước tình cảnh quá khó khăn của gia đình đồng chí Thanh, tôi thấy không thể thôi. Chào ra về, tôi nói với chị Thanh sẽ trao đổi với quận 11 để tìm cách giúp đỡ chị và các cháu thêm.

Trên đường về, tôi nghĩ không có cách gì tốt hơn là đề nghị với tập thể quận và lãnh đạo thành phố cho quận 11 nhận gia đình đồng chí Thanh về quận để trực tiếp giúp đỡ. Tôi rất mừng là ý định đó được các đồng chí lãnh đạo quận tán thành, lên Ủy ban nhân dân thành phố cũng được anh Lê Đình Nhơn là Phó Chủ tịch thường trực hoan nghênh.

Chúng tôi quyết định thu hồi một căn nhà trên đường Lạc long Quân ở phường 10 từng dự định cấp cho một cơ sở sản xuất tư nhân để cấp cho gia đình đồng chí Thanh. Việc thu hồi này có đụng chạm đến một cán bộ là thân nhân của cơ sở sản xuất nhưng việc chung phải đặt lên trên. Anh Ba Tâm, Phó Chủ tịch phụ trách công nghiệp đã bố trí một cơ sở làm dép hợp tác với gia đình để chị Thanh có công ăn việc làm.

Tôi trở lại Thủ Đức, báo cho chị Thanh việc sắp xếp này. Chị vui mừng bán ngay căn nhà nhỏ được 200 đồng và dẫn 4 con nhỏ về quận 11 ở. Do có cơ sở làm ăn, được chính quyền, các ban ngành, đoàn thể và nhân dân ở phường giúp đỡ nhiều mặt nên cuộc sống của mẹ con chị thêm ổn định. Chị Thanh được giúp đỡ làm hồ sơ thương binh.

Sau này, sức khỏe của chị Thanh khá lên nhiều, các cháu tiếp tục học tập và trưởng thành. Còn đồng chí Thanh đã chuyển ngành về công tác ở Sở Giao thông công chánh thành phố. Gia đình sum họp vui tươi, thoát khỏi cảnh cơ cực. Lo được vậy, tôi thấy thanh thản trong lòng, mừng là đã giữ được lời hứa với đồng chí của mình nơi tiền tuyến.

Kể xong câu chuyện này, ông Tư Cang chợt buồn. Ông cho biết chị Thanh mới qua đời vài tháng trước, ông coi như mất một người thân. 

Cố gắng đưa các liệt sĩ về quê hương

Năm 1991, các lãnh đạo xã Phú Hòa Đông đã đưa đến Sở Lao động - Thương binh và Xã hội 2 mẫu bia tưởng niệm mà các đồng chí định dựng lên ở ấp Phú An và Ấp Chợ, trên 2 cái giếng mà kẻ thù đã quăng xuống đó 28 đồng chí của mình, gồm 23 chiến sĩ quân đội thuộc đoàn Cát Bi - Hải Phòng, 1 du kích xã và 4 người làm công tác binh vận.

Các đồng chí cho biết vì giếng quá sâu, trên 15m và kẻ địch đã quăng xuống đó nhiều trái mìn nên việc bốc hài cốt lên rất khó khăn và nguy hiểm. Tôi tiếp nhận các đề án ấy, giao cho Phòng Kế hoạch và Tài vụ thẩm định lại rồi sẽ duyệt.

Nhưng tối hôm ấy về ngủ một giấc, thức dậy tôi lại nhớ đến việc này và như linh tính khuyên bảo tôi không nên làm như vậy mà nên vượt qua mọi khó khăn nguy hiểm để bốc hài cốt các đồng chí mình lên. Tôi đem việc này về hỏi thêm các cụ trong xã thì ai nấy đều tán thành.

125A2424.jpg
Ông Huỳnh Văn Cang vẫn giữ thói quen theo dõi tin tức thời sự hàng ngày. Ảnh: Phương Quyên

Việc tổ chức bốc hài cốt gặp nhiều khó khăn, nhất là sợ cháy mìn nổ sát thương. Tôi phải cam kết với những người nhận đào là "nếu bị thương sẽ được công nhận là thương binh, tử thương sẽ công nhận là liệt sĩ" thì anh em mới tiến hành đào và yêu cầu phải có đội rà mìn hỗ trợ.

May thay, việc đào bốc được tiến hành cẩn thận nên không xảy ra trường hợp sát thương nào và lại đạt thêm kết quả ngoài dự kiến: ở giếng Phú An khi đào xuống độ 15m thì gặp hài cốt của 1 đồng chí mà má Huỳnh Thị Liên là người cùng ấp đã nhận ra đó chính là con của mình, với quần áo, đôi dép râu và hình hài xương cốt. Khi đào xuống hơn 5 tấc nữa mới gặp hài cốt của 23 đồng chí bộ đội Cát Bi - Hải Phòng.

Còn ở giếng Ấp Chợ thì thấy xương cổ tay của 4 đồng chí làm binh vận còn bị trói bằng 1 sợi dây dù. Các gia đình thân nhân đã nhận được hài cốt của con em mình tuy không trọn vẹn.

Chúng tôi đã tổ chức lễ truy điệu trọng thể, có mời thân nhân các liệt sĩ Cát Bi - Hải Phòng vào thăm.

Tôi kể câu chuyện này để mong các cán bộ có trách nhiệm trong việc bốc hài cốt hãy cố gắng để đưa các liệt sĩ về với quê hương. 

Ghi theo lời kể của ông Huỳnh Văn Cang