Công tác cấp nước sạch nông thôn là một trong những nội dung trọng tâm của Chương trình tăng cường bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm và cấp nước sạch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025 (Chương trình 925). Nhờ sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, ngành và địa phương, công tác này đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, tạo nền tảng quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho cư dân nông thôn.

Theo báo cáo tổng kết Chương trình 925 của Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương, tính đến cuối năm 2023, tỉ lệ hộ gia đình nông thôn trên toàn quốc được sử dụng nước đạt quy chuẩn đã đạt mức 74,2%. Đây là một thành tựu lớn, khẳng định nỗ lực đảm bảo một trong những nhu cầu thiết yếu và cơ bản nhất của người dân.

W-Nỗ lực cấp nước sạch cho vùng nông thôn.jpg
Toàn cảnh Hội nghị Tổng kết Chương trình 925.

Trong tổng số hộ được tiếp cận nước đạt chuẩn này, có 55,1% số hộ sử dụng nước sạch từ công trình cấp nước tập trung và 19,1% số hộ sử dụng nước từ hình thức cấp nước quy mô hộ gia đình, thông qua các biện pháp xử lý và trữ nước an toàn. Để đạt được mục tiêu này, cả nước đã xây dựng và đưa vào vận hành tổng cộng 18.109 công trình cấp nước tập trung nông thôn, cung cấp nước sạch đạt quy chuẩn cho gần 9,4 triệu hộ gia đình. Những công trình này đóng vai trò then chốt trong việc thay đổi diện mạo nông thôn, giảm thiểu đáng kể nguy cơ bệnh tật liên quan đến nguồn nước.

Tuy nhiên, sự phân hóa về tỉ lệ tiếp cận nước sạch giữa các khu vực là một vấn đề lớn cần tiếp tục giải quyết. Cụ thể, vùng Đồng bằng sông Hồng dẫn đầu cả nước với 91,9% số hộ gia đình nông thôn sử dụng nước sạch đạt quy chuẩn. Ngược lại, khu vực Tây Nguyên lại có tỉ lệ thấp nhất, chỉ đạt 39,5%. Sự chênh lệch này đòi hỏi phải có các cơ chế, nguồn lực và giải pháp đặc thù hơn cho những vùng gặp nhiều khó khăn về nguồn nước và hạ tầng như Tây Nguyên.

Mặc dù tỉ lệ tiếp cận nước sạch đạt chuẩn đã ở mức cao, nhưng chất lượng và tính bền vững trong hoạt động của các công trình cấp nước lại đang đặt ra nhiều thách thức lớn.

Báo cáo về Chương trình 925 chỉ ra rằng, chỉ có 32,0% công trình đang hoạt động bền vững và 26,3% hoạt động tương đối bền vững. Điều đáng lo ngại là có tới 27,0% công trình hoạt động kém bền vững và 14,8% đã hoàn toàn không hoạt động. Tính chung, có tới 41,8% số công trình cấp nước nông thôn đang hoạt động không hiệu quả hoặc đã tê liệt, khiến nguồn vốn đầu tư công bị lãng phí và người dân không được hưởng lợi bền vững.

Phần lớn các công trình thuộc nhóm hoạt động kém bền vững hoặc không hoạt động thường là những công trình cấp nước tập trung nông thôn có quy mô rất nhỏ, chủ yếu do UBND cấp xã hoặc cộng đồng dân cư trực tiếp quản lý vận hành. Sự thiếu chuyên nghiệp trong quản lý, vận hành, bảo trì và việc không đảm bảo kinh phí duy tu đã khiến những công trình này nhanh chóng xuống cấp.

Bên cạnh vấn đề vận hành, rào cản lớn nhất nằm ở nguồn lực đầu tư và cơ chế chính sách. Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước được phân bổ chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Trong khi đó, việc huy động vốn từ xã hội hóa lại gặp trở ngại vì suất đầu tư cao, khả năng thu hồi vốn chậm và thiếu hấp dẫn đối với các nhà đầu tư tư nhân, nhất là tại các vùng khó khăn. 

Để giải quyết tình trạng kém bền vững và thiếu nước sạch tại các vùng đặc thù, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã chủ động triển khai các giải pháp mang tính đột phá.

Bộ đã phê duyệt danh mục 08 mô hình thí điểm cấp nước sạch tại các vùng đặc thù, khan hiếm và khó khăn về nguồn nước (như vùng hạn hán, thiếu nước, vùng sâu, vùng xa, biên giới). Đến nay, đã có 4/8 mô hình cơ bản hoàn thành, sẵn sàng đưa vào sử dụng trong thời gian tới.

Trước thực trạng tỉ lệ lớn công trình không hoạt động (14,8%) và hoạt động kém bền vững (27%), báo cáo đã đề nghị các địa phương cần phải rà soát, đánh giá một cách toàn diện thực trạng từng công trình. Trên cơ sở đó, cần có giải pháp khắc phục triệt để và đảm bảo nguồn lực tập trung vào mục tiêu cấp nước sạch nông thôn một cách bền vững, tránh tình trạng đầu tư dàn trải, kém hiệu quả.