Nghề nuôi ong lấy mật tại các xã Phong Nha, Nam Trạch và Thượng Trạch (tỉnh Quảng Trị) được hình thành từ nhiều năm trước. Tuy nhiên, người dân chủ yếu nuôi ong theo kinh nghiệm, quy mô nhỏ, sản phẩm chủ yếu được bán dưới dạng mật thô nên giá trị kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng.

Nhận thấy nghề nuôi ong phù hợp với điều kiện tự nhiên, vốn đầu tư không lớn, ít rủi ro và mang lại thu nhập ổn định, địa phương khuyến khích người dân liên kết sản xuất thông qua hợp tác xã (HTX) và tổ hợp tác.

Mô hình này giúp các hộ tiếp cận kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, xây dựng thương hiệu và mở rộng đầu ra cho sản phẩm.

W-ảnh 2.jpg
Lãnh đạo HTX Nuôi ong lấy mật vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng giới thiệu về sản phẩm mật ong. Ảnh: Hải Sâm

Tháng 10/2021, HTX Nuôi ong lấy mật vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được thành lập, với 18 thành viên và 180 đàn ong. Sau khi đi vào hoạt động, HTX tập trung ứng dụng khoa học kỹ thuật, thay ong chúa định kỳ, đưa các giống ong có năng suất cao vào nuôi và chuẩn hóa quy trình khai thác mật.

Nhờ đó, sản lượng mật tăng từ 1.440 lít năm 2021 lên hơn 3.000 lít vào năm 2025, tương đương khoảng 4,2 tấn, giá mỗi lít mật khoảng 400.000 đồng. Hiện HTX duy trì 14 thành viên hoạt động thường xuyên, duy trì doanh thu trên 1 tỷ đồng mỗi năm.

Đến nay, nghề nuôi ong tại vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng phát triển với 3 HTX, 1 tổ hợp tác cùng nhiều hộ dân tham gia, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân khu vực nông thôn, đặc biệt là các hộ sống gần rừng.

Theo ông Nguyễn Tiến Dũng, Giám đốc HTX Nuôi ong lấy mật vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, ong là loài rất nhạy cảm với môi trường. Chỉ cần xuất hiện mùi thuốc bảo vệ thực vật, xăng dầu, sơn hoặc nước xả vải, hóa chất, đàn ong có thể bỏ tổ hoặc bay đàn khỏi khu vực nuôi.

W-ảnh 1.jpg
Sản phẩm đã được tiêu chuẩn hóa với bao bì, nhãn mác và hệ thống truy xuất nguồn gốc, góp phần nâng cao giá trị thương mại. Ảnh: Hải Sâm

Vì vậy, người nuôi phải thường xuyên vệ sinh cầu ong, thay ong chúa hằng năm, bổ sung thức ăn vào mùa đông và theo dõi dịch bệnh. Dụng cụ quay mật cũng được sử dụng riêng cho từng hộ để hạn chế lây lan mầm bệnh giữa các đàn ong.

Mùa khai thác mật kéo dài từ tháng 2 đến tháng 7 âm lịch. Sau thời gian này, người nuôi dừng khai thác để đàn ong phục hồi và tích lũy nguồn thức ăn cho vụ sau. Bình quân mỗi đàn cho khoảng 1 lít mật mỗi lần quay, chu kỳ khai thác khoảng hai lần/tháng vào thời điểm hoa nở rộ.

Điểm khác biệt của mật ong Phong Nha đến từ môi trường nuôi ong tại vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, nơi rừng nguyên sinh chiếm khoảng 92% diện tích.

Nguồn hoa và phấn hoa tự nhiên phong phú từ các loài hoa rừng như bìm bìm, dâu da, hoa rượu, hoa nổ, bạch đàn cùng nhiều loại cây ăn quả tạo nên hương vị đặc trưng cho sản phẩm.

Nhờ nguồn mật tự nhiên đa dạng, mật ong Phong Nha có màu vàng nhạt, hương thơm đặc trưng, vị ngọt thanh, được người tiêu dùng đánh giá cao. Sản phẩm của HTX đã được kiểm nghiệm, đạt chứng nhận OCOP 3 sao, có bao bì, nhãn mác và mã truy xuất nguồn gốc.

W-ảnh 4.jpg
Mùa khai thác mật kéo dài từ tháng 2 đến tháng 7 âm lịch. Ảnh: Hải Sâm

Năm 2022, Sở Khoa học và Công nghệ triển khai xây dựng nhãn hiệu chứng nhận "Mật ong Phong Nha" trong khuôn khổ Chương trình phát triển tài sản trí tuệ quốc gia. Đến tháng 4/2026, Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận cho sản phẩm.

Theo ông Phan Hải Hà, Chủ tịch UBND xã Phong Nha, việc được cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu chứng nhận tạo cơ sở để địa phương quản lý, phát triển thương hiệu và nâng cao giá trị sản phẩm. 

Thời gian tới, UBND xã sẽ phối hợp với các địa phương vùng đệm rà soát, cấp quyền sử dụng nhãn hiệu cho các HTX, doanh nghiệp và hộ sản xuất đủ điều kiện, đồng thời đẩy mạnh quảng bá sản phẩm gắn với phát triển du lịch Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng.

Từ chỗ chủ yếu được tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu thô, mật ong Phong Nha đang từng bước khẳng định thương hiệu trên thị trường, mở ra hướng phát triển bền vững và gia tăng giá trị cho người nuôi ong vùng đệm.