Lời tòa soạn: VietNamNet trân trọng giới thiệu những chia sẻ của ông Ksor Phước - nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội - về những đổi thay to lớn, toàn diện ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời khẳng định giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hôm nay.

Dân số nước ta hiện nay hơn 100 triệu người; 53 dân tộc thiểu số khoảng hơn 14,7% tổng dân số. Trong đó có 6 dân tộc dân số hơn 1 triệu người; có 16 dân tộc có dân số dưới 10.000 người.
Theo kết quả Tổng điều tra dân số 2019: 53 dân tộc thiểu số đa số cư trú ở địa bàn nông thôn (cả nước bấy giờ có: 56.453 thôn, bản người các dân tộc thiểu số ở 5.468 xã (49,0% tổng số xã toàn quốc). Các xã này phân bố chủ yếu ở khu vực nông thôn (87,3%), thuộc 503/713 huyện, thị xã, thành phố trực thuộc 54/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Sau sắp xếp địa giới hành chính và tổ chức bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp, hiện nay cả nước có khoảng hơn 1.510 xã có đồng bào các dân tộc thiểu số cư trú tập trung theo cộng đồng trên địa bàn 32 tỉnh, thành phố.
Những bước tiến ấn tượng của đồng bào dân tộc thiểu số sau 50 năm
Sau khi nghỉ hưu từ 2017 đến nay, tôi đã tranh thủ đi đến rất nhiều vùng đồng bào các dân tộc thiểu số từ các tỉnh phía Bắc vào các tỉnh miền Trung và Nam Bộ của nước ta… Mặc dù nhiều vẫn còn nhiều khó khăn nhưng tôi rất mừng với những gì mắt thấy tai nghe. Sự phát triển vươn lên của các dân tộc thiểu số ở các vùng này hiện nay rất ấn tượng, to lớn và toàn diện hơn nhiều so với thời tôi làm việc cách đây 10 năm.
Ngay tại Gia Lai và Kon Tum (cũ), tôi đã không ít lần âm thầm, lặng lẽ đến thăm lại nhiều làng dân tộc Jrai, Bahnar, Xê đăng, Jé Triêng, Rmâm, Brâu… (trong đó có các xã vùng căn cứ cách mạng và 7 xã biên giới giáp Lào, Campuchia) mà tôi đã từng đến trước đây. Hầu hết những nơi tôi đến đều có đường xe ô tô đi 2 mùa (khô và mưa), tất cả các làng đều có điện thắp sáng và mạng internet.
Nhưng mừng nhất là hầu hết bà con đã có sự thay đổi rõ rệt về tư duy, tập quán lao động sản xuất theo hướng làm kinh tế hàng hoá trong trồng trọt và chăn nuôi. Nhớ lại thời kỳ sau 1975, hầu hết các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên còn ở trình độ tổ chức cộng đồng xã hội rất thấp, còn rất nhiều mê tín dị đoan, hủ tục lạc hậu với hơn 90% dân số mù chữ.
Đến 1980 dù có khá hơn, nhưng nền kinh tế của các dân tộc thiểu số vẫn là phá rừng làm nương rẫy tự cung tự cấp, công cụ sản xuất thô sơ, lạc hậu, thiếu đói hàng năm. Bấy giờ còn rất nhiều làng xa trung tâm tỉnh, huyện; đồng bào chưa biết sử dụng đồng tiền; trong mua, bán hàng hoá còn phổ biến phương thức trao đổi vật ngang giá. Tình trạng du canh, du cư và di cư tự do còn khá phổ biến. Hầu hết các làng đều "6 không": không đường ô tô, không điện, không trạm y tế, không trường học, không nhà văn hoá, không trạm thông tin liên lạc. Nước cho sản xuất và sinh hoạt chủ yếu là nước sông suối và nước mưa.

Cuối 2025, tôi đến vùng Bahnar ở Glar (Đắk Đoa), vùng Jrai ở Ia Trôk quê tôi (Ayun Pa). Tôi thấy bất ngờ vì đồng bào đã sử dụng rất thành thạo máy cày, máy gặt, máy kéo trên cánh đồng lúa nước. Cả chục năm nay, bà con sản xuất đạt từ 8-10 tấn thóc/1ha. Nhiều nơi khác, bà con đã biết chuyển đổi sang trồng trọt và chăn nuôi cây con có giá trị hàng hoá cao như cà phê, mía, cao su, sầu riêng, bơ, mắc ca, chanh dây, thuốc lá, bò, dê… Các dân tộc Xê đăng, Jé Triêng, Rmâm, Brâu ở Kon Tum cũng đã và đang giảm rất mạnh việc làm nương rẫy tự cung tự cấp mà chuyển sang phát triển cây, con có giá trị hàng hoá cao. Rất nhiều nơi tôi đến, đồng bào đã được giải quyết căn cơ về nhà ở và nước sinh hoạt hợp vệ sinh.
Trên lĩnh vực văn hoá, nhiều nơi đồng bào đã biết gắn giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc mình với phát triển kinh tế du lịch sinh thái. Các vùng dân tộc thiểu số ở Gia Lai và Kon Tum đã cơ bản phổ cập giáo dục THCS đúng độ tuổi. Số các cháu học đại học, cao đẳng và trung cấp nghề các dân tộc ở làng nào cũng có và ngày càng tăng. Đã có rất nhiều huyện, xã, làng đạt nông thôn mới…

Thời còn đương chức, tôi đã có nhiều dịp đi làm việc ở một số nước có nền kinh tế phát triển và thu nhập bình quân đầu người cao hơn nước ta rất nhiều, nhưng bên cạnh những khu đô thị phồn hoa rất giàu có còn nhiều tầng lớp, cộng đồng xã hội rất nghèo; thậm chí còn có những vùng sâu còn tồn tại mô hình tổ chức xã hội bộ tộc với phương thức sản xuất chọc tỉa, săn bắn, hái lượm...
Vai trò của Đảng, Nhà nước và sức vươn lên từ nội lực các dân tộc thiểu số
Từ đó, với những gì chúng ta đã đạt được hôm nay đã nói lên sự thật: Chỉ mới 50 năm thôi (từ 1976 đến nay), mặc dù nước ta phải qua các cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới, chịu cuộc bao vây cấm vận, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng; sự chăm lo rất lớn của Nhà nước và đồng bào cả nước; với nội lực phấn đấu vươn lên của chính mình, các dân tộc thiểu số Việt Nam đã và đang vươn lên tiến bộ toàn diện không ngừng cùng cả nước. Đảng ta, nhân dân cả nước ta và Nhà nước ta đã thật sự không quên bất cứ vùng nào và không để ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình cách mạng XHCN ở Việt Nam.
Đồng bào các dân tộc thiểu số có được sự tiến bộ toàn diện như ngày nay là nhờ:
- Đường lối lãnh đạo cách mạng đúng đắn, kiên định của Đảng về những vấn đề cơ bản liên quan đến dân tộc ở Việt Nam.
- Vai trò rất to lớn có tính then chốt của Nhà nước trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật định hướng và các chính sách hỗ trợ, giúp đỡ các dân tộc thiểu số. Tạo nền tảng cơ bản cho xây dựng và phát triển toàn diện, bền vững vùng các dân tộc thiểu số.
- Nhân dân cả nước một lòng chung tay không ngừng xây dựng, củng cố, tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc. Nội hàm đoàn kết dân tộc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là: cùng nhau bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam XHCN; cùng nhau đẩy mạnh phát triển sản xuất; chung tay xây dựng đời sống văn hoá Việt Nam mới văn minh đậm đà bản sắc, thống nhất trong đa dạng; cùng chân thành giúp đỡ nhau đều ấm no và tiến bộ vươn lên cùng cả nước.
- Sự năng động, sáng tạo vươn lên từ nội lực của các dân tộc thiểu số.
- Cán bộ công tác vùng các dân tộc thiểu số trên cả nước đã luôn chú ý bám sát cơ sở, gần gũi, gắn bó mật thiết với đồng bào các dân tộc thiểu số. Làm tốt công tác nắm tình hình, nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá và phản ánh đúng sự thật về đặc điểm, những thuận lợi, khó khăn, tiềm năng lợi thế vùng các dân tộc thiểu số. Lắng nghe, ghi nhận các ý kiến tâm tư của người dân và biết vận động tập hợp quần chúng đoàn kết thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp chung với các đại biểu dân tộc ít người trên toàn miền Bắc, năm 1963. Ảnh: Bảo tàng Lịch sử quốc gia
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc vẫn nguyên giá trị thời đại
Những thành tựu có được ngày nay nhắc nhở mỗi người chúng ta luôn luôn ghi nhớ công ơn rất to lớn của Bác Hồ đối với sự nghiệp cách mạng. Quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Bác Hồ đã rất sớm luôn chú ý, chăm lo đến các dân tộc thiểu số Việt Nam.
Tôi xin tóm tắt những vấn đề chính trong Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân tộc và công tác dân tộc ở Việt Nam là:
- Trên lãnh thổ Việt Nam có nhiều tộc người (mà chúng ta thường quen gọi là dân tộc) và theo Bác, các dân tộc ở Việt Nam liên kết, gắn bó với nhau trong suốt quá trình hình thành và phát triển tạo nên Dân tộc Quốc gia đó là Dân tộc Việt Nam. Dân tộc Quốc gia và Tổ quốc luôn đi liền, gắn kết với nhau, theo tư tưởng xuyên suốt là: Nước Việt Nam là một, Dân tộc Việt Nam là một.
- Tổ quốc Việt Nam, Nhà nước Việt Nam là của tất cả các dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam.
- Triệt để thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc về quyền và nghĩa vụ trên tất cả các lỉnh vực: chính trị, kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Các dân tộc phải tôn trọng và yêu thương nhau như anh em ruột thịt trong đại gia đình dân tộc Việt Nam.
- Đoàn kết dân tộc là vấn đề sống còn, là sức mạnh vô địch của Dân tộc Việt Nam.
- Kiên quyết xóa bỏ mọi biểu hiện: tàn dư phân biệt, kỳ thị dân tộc, tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc cục bộ, hẹp hòi; khắc phục tư tưởng tự ti dân tộc. Người căn dặn phải: “Khắc phục những tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, tự ti dân tộc. Người dân tộc lớn dễ mắc bệnh kiêu ngạo. Cán bộ địa phương, nhân dân địa phương lại dễ cho mình là dân tộc bé nhỏ, tự ti, cái gì cũng cho là mình không làm được, rồi không cố gắng”.
- Nhà nước phải có chính sách giúp đỡ, tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực phấn đấu phát triển toàn diện, vươn lên cùng cả nước.
- Đảng, Nhà nước cần quan tâm đào tạo, sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số để họ tập hợp, lãnh đạo dân tộc mình thực hiện các yêu cầu nhiệm vụ cách mạng của Đảng, Nhà nước.
Bước vào giai đoạn cách mạng mới, tôi tin tưởng ghi nhớ lời Bác Hồ, Đảng bộ, chính quyền các cấp và đồng bào các dân tộc chúng ta sẽ tăng cường đoàn kết hơn nữa thực hiện ngày càng tốt hơn các ý tưởng chỉ đạo chân thành, mộc mạc, sâu sắc của Bác Hồ kính yêu.
