
Phát biểu tại Hội nghị Giáo dục đại học năm 2026 sáng 1/10, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ghi nhận những chuyển biến tích cực của giáo dục đại học, nhất là trong đổi mới quản trị, phát triển các ngành STEM, công nghệ cao và nâng cao chất lượng đội ngũ. Tuy nhiên, trước yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và nguồn nhân lực chất lượng cao, ông cho rằng cần thẳng thắn nhìn nhận những điểm nghẽn đang cản trở sự phát triển.
Đào tạo hôm nay nhưng cho yêu cầu của ngày hôm qua
Theo Phó Thủ tướng, chất lượng và năng lực đào tạo, nghiên cứu khoa học giữa các cơ sở còn chênh lệch lớn. Sứ mệnh, thế mạnh của nhiều trường chưa rõ ràng. Một số cơ sở chạy theo mở ngành, tăng quy mô nhanh hơn khả năng phát triển đội ngũ, dẫn đến buông lỏng chất lượng. Công tác dự báo nhu cầu, điều chỉnh quy mô đào tạo chưa được quan tâm đúng mức.
“Điều này dẫn đến tình trạng đào tạo nhưng sinh viên ra trường không có việc làm hoặc làm không đúng chuyên môn. Chúng ta đã nghe rất nhiều câu chuyện học xong đại học rồi quay lại đi học trung cấp, học nghề để kiếm việc làm. Đây là một thực tế”, Phó Thủ tướng trăn trở.
Ông cũng nhìn nhận tự chủ đại học và bảo đảm chất lượng chưa thực sự đi vào chiều sâu. Năng lực quản trị, trách nhiệm giải trình giữa các cơ sở chưa đồng đều. Ở một số nơi, kiểm định chưa trở thành động lực cải tiến mà vẫn mang tính hình thức, đối phó. Tiềm lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo còn hạn chế; dữ liệu chưa được thương mại hóa, chuyển giao chưa tương xứng. Dữ liệu về người học, đội ngũ, việc làm chưa đồng bộ để phục vụ quản trị và dự báo.
Phó Thủ tướng nhấn mạnh Chính phủ quan tâm không chỉ đến những hạn chế trước mắt mà còn đến vị thế của giáo dục đại học Việt Nam trong 10 năm, 20 năm và xa hơn. Ông đặt câu hỏi vì sao chưa hình thành được những đại học có năng lực đào tạo, nghiên cứu, thu hút nhân tài, tạo ra tri thức ở tầm khu vực và thế giới.

Phó Thủ tướng đề nghị Bộ GD-ĐT, ngành giáo dục và từng cơ sở giáo dục đại học “nghiêm túc suy nghĩ và có câu trả lời” trước những yêu cầu mới.
Trong bối cảnh công nghệ số và trí tuệ nhân tạo phát triển nhanh, ông cho rằng nếu các trường không đổi mới sẽ rơi vào tình trạng “đào tạo hôm nay cho yêu cầu của ngày hôm qua”. Vì vậy, các trường cần chủ động đánh giá thẳng thắn từ chuẩn đầu ra, chương trình, việc học đến cách thi, bởi “thi kiểu nào thì học kiểu đấy”.
Theo ông, cần đổi mới cách nhìn về thành công của một trường đại học, không chỉ dựa vào số trường, số ngành hay số công bố. Các trường cần chuyển từ nghiên cứu chủ yếu để công bố sang tạo ra tri thức mới, công nghệ và sản phẩm có giá trị cho xã hội; chủ động tìm kiếm, giải quyết các bài toán từ thực tiễn thay vì chờ được giao nhiệm vụ.
Đối với các cơ sở giáo dục đại học, Phó Thủ tướng yêu cầu chủ động đổi mới từ bên trong, xác định rõ sứ mạng, phát huy thế mạnh, sử dụng hiệu quả quyền tự chủ và chịu trách nhiệm đến cùng về chất lượng, hiệu quả. “Không chạy theo quy mô, hình thức hay thành tích giả”, ông nhấn mạnh.
Giao quyền thì phải giao thật
Phó Thủ tướng nêu một số nhiệm vụ trọng tâm đối với giáo dục đại học.
Thứ nhất, chuyển mạnh từ hoàn thiện thể chế, chính sách sang tổ chức thực hiện, tạo ra kết quả cụ thể, thực chất. Bộ GD-ĐT tập trung triển khai Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị, Luật Giáo dục đại học, chiến lược phát triển giáo dục đại học và các cơ chế, chính sách đã ban hành.
“Thống nhất một nguyên tắc, nội dung nào luật đã giao quyền cho cơ sở giáo dục đại học thì để cơ sở quyết định, không phát sinh thêm thủ tục, tầng lớp xin ý kiến và chấm dứt tình trạng xin - cho”, Phó Thủ tướng đề nghị.
Theo ông, việc phân quyền phải đi đôi với thực quyền, không để phát sinh thêm các tầng nấc thỏa thuận, xin ý kiến. Bộ GD-ĐT cần tiếp tục rà soát, tổng hợp các vướng mắc để kịp thời sửa đổi, bổ sung quy định, kể cả Luật Giáo dục đại học vừa được thông qua nếu cần thiết.
Thứ hai, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục đại học, giảm ít nhất 20% đầu mối. Việc sắp xếp phải căn cứ vào chất lượng, sứ mạng, nhu cầu phát triển của ngành, vùng, địa phương, khả năng liên kết và hiệu quả sử dụng, không duy trì cơ sở yếu kém. Đồng thời, tập trung đầu tư một số cơ sở có tiềm năng để hình thành các lĩnh vực và nhóm nghiên cứu có khả năng dẫn dắt, cạnh tranh quốc tế. Các trường phải xác định rõ sứ mệnh, thế mạnh và vị trí của mình, tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực có thế mạnh, không chạy theo mở rộng quy mô ngành nghề dẫn đến lãng phí xã hội.

Thứ ba, lấy chất lượng làm yêu cầu xuyên suốt, quản trị theo kết quả đầu ra. Bộ GD-ĐT chuyển mạnh sang quản lý chất lượng bằng tiêu chuẩn, dữ liệu, công khai và hậu kiểm. Kết quả kiểm tra là căn cứ xác định năng lực tuyển sinh, mở ngành và giao nhiệm vụ.
Các cơ sở đào tạo phải chịu trách nhiệm về tính trung thực của dữ liệu và chất lượng đào tạo; bảo đảm đội ngũ giảng viên phù hợp với quy mô, ngành đào tạo; đánh giá nghiêm túc kết quả học tập, tốt nghiệp và chuẩn đầu ra. Quy mô tuyển sinh, mở ngành và thực hiện nhiệm vụ đào tạo phải phù hợp với năng lực thực tế.
Thứ tư, giáo dục đại học phải đi trước một bước trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân lực tinh hoa và nhân tài cho tương lai. Ưu tiên đào tạo nhân lực cho các lĩnh vực chiến lược như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, điện hạt nhân, đường sắt và những ngành đất nước sẽ cần trong 10-20 năm tới. Đồng thời, nâng cao chất lượng đào tạo sau đại học, nhất là tiến sĩ; có cơ chế phát hiện, đào tạo, thu hút và trọng dụng nhân tài, nhà khoa học đầu ngành.
Thứ năm, đưa các trường đại học thực sự trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ. Bộ GD-ĐT phối hợp với các bộ, ngành tiếp tục tháo gỡ điểm nghẽn về sở hữu trí tuệ, tài sản, chuyển giao, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và doanh nghiệp khởi nguồn. Các trường phải chủ động tìm kiếm, giải quyết các bài toán từ thực tiễn.
Thứ sáu, tạo đột phá trong quản trị bằng dữ liệu, chuyển đổi số và chủ động thích ứng với trí tuệ nhân tạo. Bộ GD-ĐT phải xây dựng hệ thống dữ liệu giáo dục đại học “đúng, đủ, sạch, thống nhất, dùng chung”, khắc phục tình trạng một chỉ tiêu có nhiều cách hiểu, nhiều số liệu khác nhau. Dữ liệu phải phục vụ trực tiếp cho quản trị, dự báo, cảnh báo chất lượng, phân bổ nguồn lực và hoạch định chính sách. Đồng thời, giảm gánh nặng báo cáo theo nguyên tắc dữ liệu khai một lần, kết nối và sử dụng nhiều lần.
Đặc biệt, trước tác động nhanh của trí tuệ nhân tạo, các trường phải chủ động rà soát chuẩn đầu ra, chương trình, phương pháp dạy, học, thi và đánh giá; giúp người học có năng lực sử dụng AI nhưng vẫn bảo đảm tư duy độc lập, khả năng kiểm chứng, sáng tạo và trách nhiệm.

