Quyền thụ hưởng các giá trị văn hóa là một bộ phận của quyền con người nhằm mục đích đảm bảo quyền thưởng thức, khai thác của con người đối với nền văn hóa và các thành phần của nó trong điều kiện bình đẳng về phẩm giá con người và không phân biệt đối xử. Nhận thức đầy đủ về quyền này là cần thiết trong giai đoạn hiện nay.

Mối quan hệ giữa quyền con người với quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá

Trong tiếp cận các nghiên cứu về nhân quyền, phạm vi quyền được hưởng thụ các giá trị văn hoá được coi là xuất hiện ở thế hệ quyền con người thứ 3 trong lịch sử. Theo đó, quyền thụ hưởng các giá trị văn hóa là một bộ phận của quyền con người nhằm mục đích đảm bảo quyền thưởng thức, khai thác của con người đối với nền văn hóa và các thành phần của nó trong điều kiện bình đẳng về phẩm giá con người và không phân biệt đối xử.

Nó bao gồm những quyền liên quan đến ngôn ngữ, sản xuất văn hóa và nghệ thuật, tham gia trong đời sống văn hóa; di sản văn hóa; quyền sở hữu trí tuệ; quyền của tác giả; thiểu số và tiếp cận với nền văn hóa... Một số phạm vi của quyền liên quan đến việc bảo tồn nền văn hóa như một mục đích tự thân và nhiều hơn nữa là việc thực hiện các quan hệ "sinh thái" giữa các nhóm như một điều kiện để tương tác một cách công bằng bảo đảm khả năng bảo tồn và phát triển văn hóa. 

Quyền thụ hưởng các giá trị văn hóa được xác định ở nhiều đối tượng như tôn giáo thiểu số, đồng bào dân tộc và cộng đồng bản địa đang có nguy cơ biến mất… Nó hiện diện trong mọi mặt của đời sống xã hội. Tuy nhiên, quyền thụ hưởng các giá trị văn hóa cũng có thể chỉ bao gồm khả năng của một nhóm bảo tồn lối sống, chẳng hạn như nuôi con, duy trì và phát triển ngôn ngữ của cộng đồng thiểu số… 

muaroi1.jpg
Múa rối nước mang đậm bản sắc văn hoá Việt Nam.

Quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá chỉ được đề cập khi văn hoá truyền thống làm nảy sinh các giá trị trong thương mại như: y học dân tộc, mỹ phẩm truyền thống, văn hóa dân gian, ẩm thực dân tộc nghệ thuật vùng miền, trang phục dân tộc, lễ hội dân gian... 

Ngày nay, con người ngày càng ý thức việc bảo vệ các giá trị văn hoá, đồng thời có nhận thức sâu hơn về giá trị của văn hoá chứ không chỉ đơn thuần là những giá trị thương mại của nó. Như việc nghiên cứu các nền văn hóa cổ đại có thể phát hiện bằng chứng về lịch sử của loài người và làm sáng tỏ thêm về nguồn gốc và phát triển văn hóa kế tiếp. Tuy nhiên, nghiên cứu, chia sẻ và thương mại hóa các khía cạnh văn hóa như vậy khó có thể được đạt được mà không xâm phạm các quyền văn hóa của những cá nhân, cộng đồng thuộc nền văn hóa đó. 

Quyền con người với tính cách là tập hợp các phạm vi quyền vốn có và có tính phụ thuộc lẫn nhau và thống nhất, không thể tách rời. Không thể nói rằng việc thực hiện quyền này hoàn toàn độc lập với quyền khác. Dù xét ở góc độ nào, việc hiện thực hóa quyền này đều phụ thuộc hoặc dẫn đến việc thực hiện quyền khác, tất nhiên với mức độ khác nhau. Thực tế chứng minh rằng mức độ hoàn thiện trong việc thực hiện các quyền con người phụ thuộc vào trình độ phát triển trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế ở các quốc gia. 

Về mối quan hệ giữa quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá là một bộ phận quan trọng của quyền con người. Nó không thể tách rời khỏi quyền con người, đồng thời sự phân biệt về các phạm vi khác của quyền con người chỉ là sự phân tách tương đối bởi tính thống nhất và không thể phân chia của cá nhân con người dẫn đến việc quy định nên thuộc tính của quyền con người. Chính vì vậy, phạm vi quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá ở nước ta hay bất kỳ quốc gia nào đều phải có nhận thức chung như vậy. 

Quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá từ trước đến nay đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế và khu vực. Trong các văn kiện pháp lý quốc tế, quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá được coi là xuất hiện lần đầu tại Tuyên ngôn châu Mỹ về quyền và nghĩa vụ của con người 1948. Văn kiện quy định:

“Mọi người có quyền tham gia đời sống văn hóa cộng đồng, hưởng thụ nghệ thuật và tham gia vào những lợi ích bắt nguồn từ sự tiến bộ về tri thức, đặc biệt là những phát hiện mới về khoa học. Đồng thời, mọi người có quyền được bảo hộ những lợi ích về đạo đức và vật chất đối với những phát minh mới hay bất kỳ tác phẩm văn học, công trình khoa học hay nghệ thuật nào mà họ là tác giả”.

Tuy nhiên, Tuyên ngôn châu Mỹ về quyền và nghĩa vụ của con người 1948 mới chỉ là văn kiện có tính chất khu vực, trong khi bản chất và phạm vi của quyền này luôn mang ý nghĩa toàn cầu. Trên cơ sở quy định tại Điều 13 của Tuyên ngôn, trong quá trình xây dựng Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con người, các nhà soạn thảo, đặc biệt là đại biểu của các nước thuộc khu vực Mỹ La-tinh trong ban soạn thảo, đã ủng hộ phải có một quy định có tính toàn cầu về phạm vi quyền này.

Điều 27 của Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con người gồm hai khoản (1) và (2), trong đó một điều khoản quy định quyền của mọi người được thụ hưởng các giá trị văn hoá.

Cụ thể:

(1) Mọi người có quyền tự do tham gia đời sống văn hóa của cộng đồng, hưởng thụ nghệ thuật và chia sẻ tiến bộ khoa học và những lợi ích của nó.

(2) Mọi người có quyền được bảo hộ lợi ích về vật chất và đạo đức bắt nguồn từ mọi sản phẩm khoa học, văn học, hay nghệ thuật mà người đó là tác giả.

Một văn kiện quốc tế cốt lõi khác về quyền con người mà có tính ràng buộc về mặt pháp lý, đó là Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR).

Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa là văn kiện quốc tế cốt lõi thứ hai về quyền con người, sau Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con người, quy định về các quyền con người liên quan đến giáo dục, văn hóa, khoa học, công nghệ.

Tuy nhiên, Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa khác với Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con người ở tính ràng buộc về mặt pháp lý của nó với các quốc gia thành viên; song cũng vì thế mà giá trị phổ quát của văn kiện này lại thấp hơn so với Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con người. Mọi quốc gia đều viện dẫn Tuyên ngôn Thế giới về Quyền con người nhưng không phải quốc gia nào cũng áp dụng Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa.

Nói cách khác, những văn kiện này đã tạo nên những khuôn khổ pháp lý để đảm bảo quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá và nó là một phần quan trọng trong việc bảo đảm, thực thi quyền con người.

Việc trực tiếp ghi nhận về quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá lần đầu tiên được nước ta ghi nhận vào một văn bản pháp lý là tại Hiến pháp 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2013 (Điều 41). Đây chính là lần đầu tiên Việt Nam ghi nhận quyền này một cách long trọng và chính thức trên văn bản pháp lý. 

Tuy nhiên, trước Hiến pháp 1992, sửa đổi năm 2013 được thông qua thì các quyền này tuy không được ghi nhận một cách trực tiếp nhưng vẫn có các cơ sở pháp lý để bảo hộ nó trên thực tế. Như trong Điều 5, Hiến pháp 1980; Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 quy định: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”.

Khái niệm và đặc điểm quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá

Như đã trình bày, quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá được tác giả nhận thức: là phạm vi được thừa nhận và bảo đảm nhu cầu cảm nhận và khai thác các giá trị, các vốn xã hội tốt đẹp được sáng tạo, lưu giữ trong đời sống cộng đồng của một cá nhân, cộng đồng nào đó. 

Các giá trị, vốn xã hội tốt đẹp có thể do chính cá nhân, cộng đồng đó tạo ra hoặc lưu giữ. Cũng có thể các giá trị, vốn xã hội đó là sản phẩm chung của toàn bộ một cộng đồng, một phạm vi địa lý, lãnh thổ nhất định. Tuy nhiên, ở những mức độ khác nhau quyền thụ hưởng sẽ là có những phạm vi quyền khác nhau. Ví dụ như, quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá của chính bản thân tác giả đối với tác phẩm văn hoá, nghệ thuật do mình sáng tạo ra sẽ khác với quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá mang tính sở hữu của cả dân tộc...

Cần nhấn mạnh quyền con người với tính cách là một thể thống nhất, không thể phân chia nên quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá cũng là một bộ phận quan trọng và không thể tách rời của quyền con người. Việc thừa nhận, bảo đảm chúng từ phương diện pháp lý chính là việc bảo đảm quyền con người.

Từ phương diện xã hội việc thừa nhận phạm vi quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá chính là những đặc trưng cơ bản của quyền con người so với sự vật khác. Vì chỉ con người mới có thể tạo ra được các sản phẩm, thành tựu văn hoá trong đời sống xã hội. Mặt khác cũng chỉ có xã hội loài người mới có các nền văn hoá và có nhu cầu thụ hưởng và gìn giữ các giá trị văn hoá. 

Trong khái niệm trên, cần lưu ý cụm từ: phạm vi thừa nhận và bảo đảm, việc thừa nhận và bảo đảm quyền đó đề cập tới ranh giới thừa nhận và không thể xâm phạm của một chủ thể nào đó đối với quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá của cá nhân này với cá nhân khác, của cộng đồng này với cộng đồng khác… Ở đây có thể thấy vai trò của nhà nước là hết sức quan trọng trong việc xây dựng những khuôn khổ pháp lý nhằm đáp ứng nhu cầu thụ hưởng xã hội và người dân. 

Với tính chất đặc thù của xã hội loài người, là nhận thức, cảm nhận được những giá trị văn hoá nên việc tôn trọng, bảo đảm quyền hưởng thụ các giá trị văn hoá là một đặc trưng đặc thù riêng có của xã hội loài người so với các loài khác trên trái đất. Và chỉ có xã hội loài người mới tạo ra được những nền văn hoá, giá trị văn hoá và có nhu cầu thụ hưởng các giá trị của nó. Nói một cách khác, văn hoá chính là thành tựu của xã hội loài người. Do đó, những giá trị đó cần được bảo vệ và bảo đảm cho mọi người có quyền được thụ hưởng chúng nhằm mục tiêu thoả mãn nhu cầu và xây dựng những nền móng vững chắc cho sự phát triển của xã hội loài người.

Về phạm vi, sự hiện diện của văn hoá là hết sức đa dạng và không tập trung ở một vùng lãnh thổ nhất định, không có tính khuôn mẫu. Sự xuất hiện của văn hoá và các giá trị văn hoá luôn phụ thuộc vào yếu tố con người. Nghĩa là các giá trị văn hoá luôn gắn với một cộng đồng cụ thể bởi nó là sản phẩm của con người nên không thể tách biệt ra khỏi con người. 

Chính vì vậy, quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá tuy là một phạm vi quan trọng của quyền con người nhưng vì sự đóng góp, ảnh hưởng của mỗi cá nhân, cộng đồng cũng như phạm vi quyền của mỗi đối tượng trong mỗi lĩnh vực cụ thể đối với mỗi giá trị văn hoá khác nhau được xem là cơ sở để xây dựng và bảo đảm quyền này. 

Do đó, nội dung của quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá ở phương diện tổng quan nhất nội dung của quyền được thụ hưởng các giá trị văn hoá chính là việc bảo đảm một cách tốt nhất quyền con người. Ở phương diện hẹp hơn, nội dung của quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá đó chính là các quy định pháp luật điều chỉnh đến những phạm vi tác động đến quyền này. 

Một số quan điểm cho rằng nên hiểu nó theo phạm vi là quyền được hưởng thụ các giá trị văn hoá. Bởi về mặt ngữ nghĩa, khó có những sự phân biệt một cách chính xác về quyền thụ hưởng (right to be enjoyed) và quyền hưởng thụ (right to enjoyment). Tuy nhiên, một số tác giả cho rằng, quyền thụ hưởng mang tính bị động của chủ thể cho nên đây phải là phạm vi được xác lập bởi một chủ thể khác chứ không phải quyền chủ động yêu cầu của chính chủ thể.

Việc nhận thức như vậy cũng hoàn toàn hợp lý, ở chỗ đây là phạm vi quyền liên quan đến phát triển. Việc nhận thức của nhà nước và chính sách phát triển quốc gia là tiền đề để các quyền này có thể bảo đảm và đưa vào cuộc sống. Không nên coi là phạm vi của quyền này là quyền hưởng thụ bởi quyền hưởng thụ sẽ đặt ra vấn đề về quyền sở hữu và nó liên quan đến các loại quyền các phạm vi của nó là chiếm hữu, sử dụng và định đoạt.

Điều này có vẻ là chưa thực sự thuyết phục khi nói về quyền thụ hưởng. Hơn nữa, trong phạm vi của nghiên cứu này, tác giả chỉ giới hạn đến quyền thụ hưởng là vì muốn nhấn mạnh đến các tiếp cận dựa trên quyền con người, nghĩa là khẳng định chủ thể của các quyền ấy đồng thời chỉ ra những nghĩa vụ mà chủ thể nghĩa vụ phải có trách nhiệm đáp ứng. 

Các yếu tố tác động đến quyền được thụ hưởng các giá trị văn hoá 

Trước tiên với tính cách là một bộ phận không thể tách rời của quyền con người, quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá sẽ chịu tác động lớn nhất bởi việc bảo đảm và thực hiện quyền con người trên mỗi phạm vi địa giới, lãnh thổ nhất định. Ở những nơi quyền con người được bảo đảm tốt những bộ phận không thể tách rời của quyền con người trong đó có quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá luôn được coi trọng và bảo đảm.

Ngược lại những nơi quyền con người không được tôn trọng và bảo đảm quyền hưởng thụ các giá trị văn hoá cũng không có cơ sở được bảo vệ. Ngoài ra, quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá cũng còn phải chịu sự tác động của rất nhiều phạm vi quyền khác.

Quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá phụ thuộc nhiều vào quyền riêng biệt về văn hóa. Bởi nó là một trong những nội dung quan trọng của quyền về văn hóa nói chung và quyền thụ hưởng các giá trị văn hóa nói riêng. Quyền riêng biệt về văn hóa đã đạt được sự thừa nhận rộng rãi thông qua sự phát triển quyền của các nhóm người thiểu số đối với nền văn hóa của chính bản thân họ.

Điều 27 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị quy định rõ rằng “các tộc người thiểu số có quyền hưởng nền văn hóa của riêng họ” (mà không bao giờ bị phủ nhận). Quyền có một nền văn hóa riêng biệt và quyền phải được tôn trọng đối với nó được coi là nền tảng, cơ sở để chống lại chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và bất kỳ dạng nào khác của phân biệt đối xử. Nguyên tắc này được ghi nhận bởi tổ chức UNESCO “Tất cả các cá nhân và nhóm người đều có quyền được khác biệt/riêng biệt để coi họ là khác biệt và tôn trọng điều ấy” (Điều 1.2 của Tuyên ngôn UNESCO về chủng tộc và thành kiến chủng tộc 1978).

Theo cách hiểu về quyền riêng biệt về văn hoá này, những nhóm thiểu số là đối tượng được bảo vệ trong phạm vi nền văn hoá của mình. Nghĩa là, họ là những đối tượng được bảo vệ và dường như họ có những đặc quyền cao hơn những cá nhân, cộng đồng khác đối với nền văn hoá mà họ đang sinh sống. Điều đó cũng có nghĩa là, pháp luật quốc tế thừa nhận và tôn trọng sự khác biệt giữa những nền văn hoá thiểu số với các nền văn hoá lớn khác. 

Các giá trị văn hoá luôn gắn với một đối tượng cụ thể. Đối tượng đó có thể là một cá nhân, một cộng đồng hay một phạm vi lãnh thổ. Việc bảo hộ các giá trị văn hoá gắn với chủ thể sở hữu sẽ là những điều kiện bình đẳng và thuận lợi cho việc khuyến khích phát triển các giá trị văn hoá.

Việc không bảo hộ các quyền này sẽ dẫn đến sự xâm phạm một cách tuỳ tiện các sản phẩm văn hoá xâm phạm những quyền hợp pháp của các chủ thể sở hữu. Đề cập đến vấn đề này là chúng ta thấy trong công ước quốc tế toàn cầu về bản quyền.

Điều 1 Công ước toàn cầu về bản quyền toàn cầu năm 1952 (sửa đổi năm 1971) đã chỉ ra nghĩa vụ của nhà nước trong lĩnh vực này như sau: “Mỗi Nhà nước cần phải cung cấp sự bảo vệ đầy đủ và hiệu quả quyền tác giả và chủ sở hữu bản quyền trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật, bao gồm các tác phẩm viết, âm nhạc, kịch nói, điện ảnh, tranh ảnh, tác phẩm điêu khắc hay chạm trổ”.

Quyền tự do cần thiết cho các hoạt động văn hoá là một nội dung hết sức quan trọng của quyền thụ hưởng các giá trị văn hóa. Đề cập đến quyền tự do cần thiết và sự tác động của quyền này đối với quyền thụ hưởng các giá trị văn hoá, chúng ta thấy đây là vấn đề liên quan đến quyền con người đã được trình bày ở trên.

Trong tuyên bố về các nguyên tắc trong hợp tác quốc tế về văn hóa (UNESCO năm 1966) nói rằng: Mỗi người đều có quyền và nghĩa vụ phát triển nền văn hóa của mình (Điều 1) và hợp tác về văn hóa là quyền và nghĩa vụ của tất cả mọi người, mọi quốc gia, những chủ thể có thể chia sẻ với quốc gia này hoặc quốc gia kia kiến thức và kỹ năng của dân tộc mình (Điều 6).

Đây là những vấn đề liên quốc gia, tuy nhiên chúng ta có thể nhìn thấy những vấn đề nội tại quan trọng từ việc nhấn mạnh đến quyền của người dân tộc thiểu số trong việc thụ hưởng nền văn hóa riêng của họ (Điều 27, Tuyên bố của các dân tộc thiểu số, Điều 2.1 và 2.5). 

Quyền tự do cần thiết cho các hoạt động sinh hoạt văn hóa và đời sống văn hóa có vai trò quan trọng đối với quyền thụ hưởng các giá trị văn hóa. Quyền này về thực chất có mối liên hệ chặt chẽ tới các quyền con người cơ bản khác bao gồm quyền tự do lập hội, hội họp; quyền tiếp cận thông tin, quyền tự do báo chí...

Thạc sĩ Trần Thị Hằng