
Phát biểu tại hội nghị "Thể chế khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - Tháo gỡ điểm nghẽn và kiến tạo phát triển" do Bộ KHCN tổ chức ngày 15/7, ông Nguyễn Đạt, Phó Tổng giám đốc Viettel cho biết Viettel có hơn 20 năm hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ cao và từng trải qua giai đoạn nhiều rào cản về cơ chế.
Một trong những ví dụ là việc xây dựng cơ chế tiền lương đặc thù để thu hút chuyên gia khoa học công nghệ đã mất tới 11 năm mới được tháo gỡ.
Ngay sau khi Nghị quyết 57 được ban hành, Viettel đã ban hành nghị quyết của doanh nghiệp cùng kế hoạch hành động chi tiết để triển khai phát triển công nghệ chiến lược bằng nguồn lực của mình.
Để thực hiện mục tiêu này, Ban Tổng giám đốc Viettel đã đề nghị Bộ Quốc phòng và Chính phủ bổ sung thêm hai phó tổng giám đốc trực tiếp phụ trách lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao.
Trong tổng số 8 thành viên Ban Tổng giám đốc, hiện có 4 người chuyên trách trực tiếp lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao, thể hiện quyết tâm của lãnh đạo cao nhất trong việc triển khai Nghị quyết 57.
Theo ông Nguyễn Đạt, đến thời điểm này, "thể chế đã sẵn sàng, vấn đề còn lại là cách hành động".
Xây dựng lực lượng khoa học công nghệ và phát triển 9/10 nhóm công nghệ chiến lược
Theo ông Nguyễn Đạt, nhu cầu nhân lực chất lượng cao của Viettel trong 5 năm tới là rất lớn, trong khi nguồn cung trong nước vẫn chưa đáp ứng được.
Riêng lĩnh vực bán dẫn, Viettel được giao nhiệm vụ xây dựng nhà máy sản xuất chip. Để vận hành nhà máy này, tập đoàn dự kiến cần khoảng 1.000 cán bộ, trong đó có hơn 300 tiến sĩ, bao gồm nhiều chuyên gia từng làm việc tại các tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới.
Viettel đã thành lập Trung tâm Bán dẫn, tuyển dụng hơn 70 tiến sĩ, đồng thời cử ba lớp cán bộ sang Đài Loan (Trung Quốc) đào tạo về sản xuất bán dẫn.
Ngoài lĩnh vực bán dẫn, tập đoàn cũng thành lập nhiều trung tâm chuyên trách như Trung tâm Công nghệ hàng không, Viện nghiên cứu công nghệ công nghiệp chiến lược ... Trung tâm bán dẫn hiện đã có hơn 300 nhân sự.
Trong 10 nhóm công nghệ chiến lược của quốc gia, Viettel tham gia 9 nhóm và đều thành lập tổ chức chuyên trách để triển khai với chương trình, kế hoạch hành động và mục tiêu rõ ràng.
Trong đó Viettel cũng đặt kế hoạch làm chủ công nghệ 5G Advanced vào năm 2027 và bắt thử nghiệm công nghệ 6G từ năm 2030; làm chủ máy tính lượng tử và các loại chip chuyên dụng…

Ở lĩnh vực 5G, Viettel đã làm chủ công nghệ và đã đưa thiết bị 5G do Viettel nghiên cứu sản xuất vào trong hệ thống tại Việt Nam và các nước Viettel đầu tư.
Làm chủ công nghệ lõi, xây dựng hệ sinh thái để cạnh tranh toàn cầu
Theo ông Nguyễn Đạt, để để sản phẩm công nghệ chiến lược của Việt Nam có thể triển khai ở quy mô lớn và đưa ra thị trường toàn cầu cần hội đủ ba điều kiện.
Thứ nhất là phải làm chủ công nghệ lõi ở trình độ tiên tiến. Ông cho biết các công nghệ cốt lõi hiện nay hầu như không được chuyển giao.
Ngay cả với dự án nhà máy sản xuất chip 32 nm, việc tiếp cận công nghệ từ tập đoàn nước ngoài cũng gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi Viettel phải có lộ trình làm chủ nếu muốn triển khai quy mô lớn và cạnh tranh.
Thứ hai là cần có thị trường làm bệ đỡ. Theo ông, đây là lợi thế của Viettel khi vừa có thị trường trong nước, vừa có hơn 10 thị trường quốc tế mà tập đoàn đang đầu tư để tiêu thụ các sản phẩm công nghệ.
Thứ ba là phải hình thành hệ sinh thái công nghiệp. Lấy ví dụ về thiết bị 5G, ông cho biết Viettel đã làm chủ thiết kế và sản xuất nhưng nhiều linh kiện vẫn phải nhập khẩu.
Vì vậy, cần phát triển mạng lưới doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia sản xuất các linh kiện, tương tự mô hình của ngành công nghiệp ô tô, nơi các doanh nghiệp lớn tập trung vào công nghệ lõi còn các doanh nghiệp vệ tinh đảm nhiệm những thành phần khác.
Chia sẻ thêm về chiến lược phát triển công nghệ chiến lược, Chủ tịch Viettel Tào Đức Thắng cho rằng lượng tử, bán dẫn, vật liệu tiên tiến đều là những lĩnh vực rất quan trọng.
Tuy nhiên, các công nghệ lõi như chế tạo chip bán dẫn sẽ không có chuyện được chuyển giao dễ dàng, vì vậy phải xác định lộ trình rõ ràng và tự đi bằng chính năng lực của mình.
Theo ông, kinh nghiệm của Viettel là "vừa làm vừa phối hợp". Tập đoàn không thay thế các viện nghiên cứu hay trường đại học mà phối hợp chặt chẽ với họ để làm chủ công nghệ.
Đối với công nghệ lượng tử, vật liệu, vệ tinh hay radar, nền tảng đều là khoa học cơ bản, vì vậy cần sự tham gia của các cơ sở nghiên cứu và đào tạo để xây dựng nguồn nhân lực lâu dài.
Ông Tào Đức Thắng cũng cho biết Viettel phát triển công nghệ theo hướng đi từ nhỏ đến lớn, từ mô phỏng, chế tạo mẫu rồi từng bước làm chủ; phần nào tự làm được thì tự làm, phần nào chưa làm được thì hợp tác.
Đồng thời, mỗi nhóm công nghệ chiến lược đều phải gắn với một sản phẩm chiến lược cụ thể để thuận lợi cho việc triển khai.