Thông tin về một số điểm mới trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) được bà Trần Minh Thu, Trưởng phòng Tổng hợp, Ban Tôn giáo Chính phủ (Bộ Dân tộc và Tôn giáo) chia sẻ với báo giới ngày 23/4.

W-Ba Thu.jpg
Bà Trần Minh Thu, Trưởng phòng Tổng hợp, Ban Tôn giáo Chính phủ, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, chia sẻ với báo giới tại Hà Nội ngày 23/4.

Theo vị nữ trưởng phòng của Ban Tôn giáo Chính phủ, qua hơn 8 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, đồng thời tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. 

Tuy nhiên, một trong những hạn chế là Luật chưa có quy định về nguyên tắc, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng. 

“Hiện nay, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng không chỉ là vấn đề mới mà còn là thực tế tất yếu trong kỷ nguyên số, đặt ra yêu cầu cần thiết phải quy định đầy đủ, toàn diện về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng”, bà Thu nhấn mạnh.

Chiều ngày 23/4, với 492/492 đại biểu có mặt tán thành (đạt tỷ lệ 100%), Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi). Luật gồm 9 chương, 61 điều, có hiệu lực thi hành từ 1/1/2027. Đây là lần đầu tiên thiết lập khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.

Tiên phong, tiến bộ về quản lý trên không gian mạng

Ông Phạm Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Thông tin cơ sở và Thông tin đối ngoại – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhận định: “Luật Tín ngưỡng tôn giáo sửa đổi là một trong những Luật tiên phong, rất tiến bộ về quản lý trên không gian mạng: Không chỉ quy định quản lý chặt chẽ mà còn tạo điều kiện cho các hoạt động trên không gian mạng được đảm bảo quyền tự do mà vẫn đảm bảo tuân thủ pháp luật”.

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) đã bổ sung ngay trong phần giải thích từ ngữ khái niệm “hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng” là việc tổ chức, cá nhân theo quy định của luật sử dụng không gian mạng để thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Ý nghĩa của việc bổ sung không chỉ nằm ở chỗ thừa nhận một hình thức hoạt động mới, mà còn ở chỗ xác lập rõ cơ chế pháp lý quản lý loại hoạt động này, làm cho khuôn khổ quản lý đồng bộ và chủ động hơn. 

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quy định, khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng thì các chủ thể có liên quan vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thông báo, đăng ký hoặc đề nghị theo các quy định tương ứng của Luật.

Song song đó, Điều 8 còn quy định rõ trách nhiệm của 3 chủ thể gồm: Cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc hướng dẫn, giám sát, kiểm tra, thanh tra; Tổ chức, cá nhân khi tham gia hoạt động; Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng trong việc triển khai giải pháp kỹ thuật, phối hợp gỡ bỏ hoặc ngăn chặn nội dung vi phạm và ngăn chặn truy cập theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. 

"Trước đây, nếu phát sinh vi phạm trên không gian mạng liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thường dẫn chiếu, liên kết tới các văn bản quy phạm pháp luật khác để xử lý vi phạm này. Giờ Luật sửa đổi đưa ra nguyên tắc cũng như quy định rõ hơn chủ thể, trách nhiệm, căn cứ pháp lý để hướng dẫn giải quyết các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.

Về phương diện chính sách, điểm mới này phản ánh đúng thực tiễn. Hoạt động tôn giáo, giảng đạo, chia sẻ các nội dung nghi lễ, hướng dẫn sinh hoạt tín ngưỡng, kêu gọi tham gia hoạt động cộng đồng, quyên góp, hay thậm chí những hành vi vi phạm pháp luật như giả danh tôn giáo hiện nay đều có thể diễn ra trên nền tảng số. Nếu Luật không điều chỉnh, sẽ hình thành một khoảng trống pháp lý lớn”, bà Thu phân tích.

Tuy nhiên, bà Thu cũng lưu ý thêm về việc cần phân định rõ đâu là những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của tổ chức, cá nhân cần được quản lý, đâu là những hành vi thể hiện đức tin thuần túy tín ngưỡng, tôn giáo, và đâu là hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật trên môi trường số.

Điều 8 của Luật đã đặt ra nguyên tắc về các tiêu chí nhận diện cũng như trình tự, thủ tục. Chính phủ sẽ quy định cụ thể ở các văn bản hướng dẫn thi hành Luật”, bà Thu nói thêm. 

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) gồm 9 chương với tổng số 61 điều (giảm 7 điều so với Luật hiện hành); có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2027.

Theo quy định mới, số thủ tục hành chính (TTHC) về tín ngưỡng, tôn giáo giảm từ 56 trước đây xuống còn 53 (trong đó cấp bộ 15 thủ tục, cấp tỉnh 30 thủ tục, cấp xã 8 thủ tục).

Về đơn giản hoá TTHC và chuyển đổi số trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, 3 TTHC được sửa đổi, bổ sung theo hướng chuyển từ quy định phải đăng ký thành thông báo; Sửa đổi, bổ sung 7 TTHC, trong đó có 2 thủ tục đăng ký có bổ sung về chủ thể và địa bàn hoạt động; 1 thủ tục đăng ký từ tiền kiểm chuyển sang hậu kiểm và 4 thủ tục theo hướng cho đăng ký (thay vì đề nghị)...

Tại Việt Nam, hiện có 43 tổ chức tôn giáo được nhà nước công nhận là tổ chức tôn giáo và cấp đăng ký hoạt động; tổng số hơn 28 triệu tín đồ các tôn giáo, gần 200 nghìn chức sắc chức việc (trong đó hơn 66 nghìn chức sắc). Vừa có 6 chức sắc tôn giáo được bầu là đại biểu Quốc hội khóa 16 (4 chức sắc Phật giáo và 2 chức sắc Công giáo); 59 chức sắc, chức việc trúng cử Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nhiệm kỳ 2026-2030.

Theo thống kê chưa đầy đủ, trên phạm vi cả nước hiện có hơn 100 hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáo mới. Trong đó chỉ khoảng 30% là hoạt động thuần túy tín ngưỡng tôn giáo, còn lại là hoạt động vi phạm pháp luật (nhiều nhất là mê tín dị đoan, hành vi vi phạm pháp luật như trục lợi…).